TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

TỔNG TIẾN CÔNG XUÂN 1975 ĐẤU PHÁP CHIẾN LƯỢC CÓ MỘT KHÔNG HAI


  Flag 

 

 

 

  

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

 

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

 

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED 

 

 

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

 

Trần Chung Ngọc  

 

Giuse Phạm Hữu Tạo

  Nguyễn Mạnh Quang

 

Charlie Nguyễn

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

 Websites hải ngoại

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Quân Đội Nhân Dân

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

Websites hải ngoại

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Tieng Que Huong Radio.

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

hân

 

 

TỔNG TIẾN CÔNG XUÂN 1975

ĐẤU PHÁP CHIẾN LƯỢC CÓ MỘT KHÔNG HAI

 

North Vietnam’s Final Offensive: strategic endgame nonpareil

Merle L. Pribbenow

 

 

Bai 3 Bon ky vat cua Dai tuong Van Tien Dung

*Đại tướng Văn Tiến Dũng tư  lệnh chiến dịch Hồ Chí Minh 4/1975,đă dự thảo kế hoạch Tổng tiến công Xuân 1975 (không phải Tướng Vơ Nguyên Giáp)

"Tổng tiến công Xuân 1975: đấu pháp chiến lược kết thúc ván cờ có một không hai của Bắc Việt" (North Vietnam’s Final Offensive: strategic endgame nonpareil) là bài viết của tác giả Merle L. Pribenow, cựu chuyên viên về Đông dương của CIA, đăng trên tập san Pa-ra-mi-tơ (Parameters), Hoa Kỳ, số Mùa Đông 1999-2000. Bài được dư luận xem là một công tŕnh nghiên cứu khá sâu về nghệ thuật chiến dịch của Việt Nam.

Kế hoạch tác chiến

Những ư tưởng ban đầu của cuộc Tổng tiến công Xuân 1975 được vạch ra trong hai cuộc hội nghị quân sự cấp cao tháng Ba và tháng Tư năm 1974. Hai hội nghị này cho rằng QĐND đă giành quyền chủ động chiến trường kể từ chiến dịch Quảng Trị 1972. Sau hiệp định Pa-ri, đường Hồ Chí Minh đă không c̣n bị Mỹ không kích, miền Bắc đă chuyên chở được một số lượng lớn hàng tiếp tế và trang bị vào miền Nam.

Sau hội nghị, Bộ Tổng tham mưu QĐND soạn Dự thảo kế hoạch đánh thắng cuộc chiến tranh ở miền Nam tŕnh lên vị Tổng tư lệnh huyền thoại của họ, tướng Vơ Nguyên Giáp. Sau khi cân nhắc kĩ, ngày 18-7-1974, tướng Giáp triệu tập tướng Hoàng Văn Thái, ra lệnh chính thức xây dựng kế hoạch chiến dịch bảo đảm Toàn thắng ở miền Nam trong năm 1976. Quan điểm của tướng Giáp là tiến hành chiến dịch tiến công gồm hai giai đoạn, trước hết là một trận then chốt do quân chủ lực đánh vào cao nguyên Trung phần, tiếp theo là một cuộc Tổng công kích vào lực lượng pḥng thủ Sài G̣n.

Ngày 26-8-1974, sau khi chỉnh sửa, Bộ Tổng tham mưu QĐND đệ tŕnh văn bản với tên gọi “Kế hoạch chiến lược hai năm 1975-1976” lên các lănh tụ của Đảng và quân đội. Cuối cùng, nó được phê duyệt trong phiên họp của Bộ Chính trị tháng 10-1974.

Cho dù quyền chủ động chiến trường đă thuộc về họ, bản Kế hoạch chiến lược này khá thận trọng. Các nỗ lực xây dựng lại lực lượng du kích ở nông thôn gặp khó khăn, cơ sở chính trị ở thành thị chưa hồi phục, chưa xây dựng được kho tàng cho vũ khí, đạn dược hạng nặng tạo hỏa lực tiến công đủ mạnh cho quân chính quy. Tuy nhiên, các nhà lănh đạo miền Bắc vẫn thấy triển vọng trong khoảng vài năm cho cơ hội giành toàn thắng trước khi Hoa Kỳ hồi sức lại, sau những bê bối sân nhà. C̣n QĐND th́ hiểu rằng họ vẫn phải luôn sẵn sàng đương đầu với can thiệp từ bên ngoài! Các chỉ thị cốt lơi của tướng Giáp vẫn bao hàm yêu cầu đối với các lực lượng vũ trang miền Bắc phải đề pḥng khả năng Mỹ khởi động lại guồng máy không kích, hoặc tiến hành đổ bộ lên Vịnh Bắc Bộ. Từ phân tích trên, Bộ Tổng tham mưu QĐND cho rằng, quân đội của họ sẽ không thể tiến hành một cuộc “tổng tiến công và nổi dậy” như thời ḱ Xuân Mậu Thân, khi c̣n một số lượng đông đảo du kích các vùng nông thôn và đô thị tham chiến. Cũng không c̣n nguồn tiếp viện như trước để tiến hành một cuộc tiến công ồ ạt theo bài bản của chiến tranh qui ước, như đă làm vào xuân 1972.

Viện trợ quân sự của Liên Xô và Trung Quốc đă giảm cực ḱ đối với hạng mục vũ khí tiến công-thiết giáp và pháo, kể từ hiệp định Pa-ri. Sự thiếu hụt về tăng-thiết giáp và trọng pháo mà QĐND cần để tấn công các căn cứ cấp binh đoàn của quân đội Việt Nam cộng ḥa làm các nhà lập kế hoạch trong Bộ Tổng tham mưu cộng sản vô cùng băn khoăn. Nhiều đơn vị pháo binh miền Nam (Quân giải phóng) chỉ trang bị súng cối hạng nhẹ, súng không giật (ĐKZ) hoặc ống phóng hoả tiễn vác vai (B40). Cả bảy sư đoàn và khung Quân đoàn 4 của miền Nam chỉ có năm tiểu đoàn pháo, trong đó hai tiểu đoàn trang bị pháo đoạt được của Mỹ v́ thế rất ít đạn dược, cùng ba tiểu đoàn thiếu bộ đội thiết giáp. (Xin lưu ư rằng Quân đoàn 2 lúc tiến vào Sài G̣n cuối tháng 4-1975 cũng chỉ có 89 tăng và thiết giáp chở quân, cùng 87 cỗ pháo). Đạn dược là rất gay go của QĐND, thiếu nhất là đạn cho tăng và pháo ...

Thời cơ chiến lược

Cho dù dự thảo Kế hoạch chiến lược nói trên tỏ ra thận trọng, nó vẫn cực ḱ tham vọng. Mục tiêu tổng quát của nó là nhằm kiến tạo bằng mọi biện pháp cái mà QĐND vẫn gọi là thời cơ chiến lược. Đó có thể là một cuộc binh biến, một bạo động chính trị dẫn tới lật đổ chính quyền Sài G̣n, hay một trận thắng của QĐND Việt Nam có ư nghĩa quyết định chiến trường. Kế hoạch cũng tiên liệu sao cho, bất luận thời cơ trên xuất hiện lúc nào, dưới h́nh thức ǵ, các lực lượng vũ trang của họ phải lập tức được điều động vào đ̣n tổng công kích quyết liệt nhằm giành toàn thắng trong thời gian ngắn nhất, trước khi các thế lực can thiệp từ bên ngoài (...) kịp phản ứng.

… Tháng Chạp 1974, Sư đoàn 304 của QĐND Việt Nam đánh chiếm căn cứ Thượng Đức ở vùng núi phía tây Đà Nẵng và bẻ găy loạt trận phản kích quyết liệt của hai sư đoàn thượng thặng của Việt Nam cộng ḥa là Sư đoàn 3 và sư đoàn lính dù.

Có hai thành tố quyết định trong sự thăng hoa về chiến lược dẫn QĐND đến toàn thắng, đồng thời cũng là những điều các nhà dùng binh kinh điển thường chỉ ra: đó là thời nhân.

… Mồng 6 tháng Giêng các Sư đoàn 3 và 7 đánh chiếm tỉnh lị Phước Long, đoạt thêm 10.000 viên đạn pháo nữa. Sài G̣n không thấy có động tĩnh ǵ về chuyện tái chiếm Phước Long. C̣n người Mỹ răn đe bằng cách cho tàu chở máy bay Enterprise tiến về vùng biển Nam Việt Nam. Mối đe dọa này cũng bay biến khi En-tơ-prai-xơ (Enterprise) quay mũi trở lại đại dương sau đó.

Chiến thắng Phước Long thức tỉnh ban lănh đạo Bắc Việt rằng bản Kế hoạch chiến lược là quá ư thận trọng. Đánh giá của Bộ Chính trị về khả năng Mỹ không can thiệp trở lại tỏ ra chính xác, nhược điểm trong hệ thống pḥng thủ của quân đội VNCH cũng bộc lộ rơ. Một điều nữa vô cùng quan trọng là giải pháp khắc phục thiếu hụt đạn dược cũng đă được t́m ra: đánh chiếm các kho dạn dược lớn của Sài G̣n ...

Mồng 9 tháng Giêng 1975, hai ngày sau khi Kế hoạch chiến lược mới được Bộ Chính trị thông qua, Quân ủy Trung ương họp, đề ra các mục tiêu của chiến dịch Tây Nguyên: Tiêu diệt từ bốn đến năm trung đoàn bộ binh, một đến hai chiến đoàn thiết giáp của đối phương, đánh thiệt hại nặng Quân đoàn 2 Sài G̣n.

Giải phóng các tỉnh Đắc Lắc, Phú Bổn, Quảng Đức, lấy tỉnh lị Buôn Ma Thuột làm trọng điểm của chiến dịch.

Nếu thời cơ xuất hiện, phát triển tiến công lên phía Bắc giải phóng Plei-cu và Kon Tum, hay xuống phía đông chiếm Phú Yên, Khánh Ḥa …

Nhờ mạng lưới t́nh báo tuyệt vời của ḿnh, Hà Nội biết chắc rằng Sài G̣n không hay biết ǵ về mục tiêu chính yếu của họ. Hà Nội cũng hiểu rằng không thể bảo đảm bí mật tuyệt đối cho việc tiếp tế ồ ạt và công tác chuẩn bị chiến trường ở quy mô lớn đến như vậy. V́ thế họ đă triển khai một chiến dịch nghi binh cực ḱ tinh vi, tương kế tựu kế đánh vào một trong những điểm mạnh nhất của quân Sài G̣n cùng đồng minh Hoa Kỳ: đó chính là mạng trinh sát điện tử và thám không vô cùng hiện đại. Sóng điện của các đơn vị QĐND sẽ tham chiến tuyệt đối im lặng, c̣n các báo vụ viên th́ đánh đi hàng trăm bức điện vô tuyến giả mạo. Họ c̣n làm những con đường ma, hoặc cố t́nh cơ động các đoàn xe về phía Plei-cu và Kon Tum để thuyết phục Sài G̣n rằng hai thành phố này được chọn làm quyết chiến điểm. Kịch bản này hiệu quả đến mức các tư lệnh quân đội VNCH làm ngơ hàng loạt báo cáo về việc Buôn Ma Thuột mới chính là mục tiêu của chiến dịch…

Sau loạt đ̣n tiến công trên khắp miền Nam, rạng sáng 10-3-1975, 12 trung đoàn QĐND bất ngờ tiến công Buôn Ma Thuột. Sau 32 giờ chiến đấu, QĐND đă chiếm hoàn toàn căn cứ và bắt sống viên Phó tư lệnh Sư đoàn 23. Họ đoạt thêm được 12 cỗ pháo100 tấn đạn dược. Hà Nội hiểu rằng thời cơ chiến lược đă cận kề.

Hồi trống trận mà đối phương dóng lên ở khắp miền Nam làm những người đứng đầu chế độ Sài G̣n choáng váng. Tổng thống Thiệu trong lúc rối ren, tuyệt vọng liên tiếp đưa ra những mệnh lệnh khốc hại.

Thứ nhất, sư đoàn lính dù vốn là nền tảng của tấm lá chắn phía Bắc được rút về be chắn Sài G̣n, nơi mà Thiệu cho là sắp sửa bị tràn ngập bởi đợt sóng thần Tổng tiến công. Tuyến pḥng thủ Huế-Đà Nẵng kể từ đó khấp khểnh như răng bừa cũ.

Lệnh thứ hai, là tái chiếm Buôn Ma Thuột “bằng mọi giá”. V́ mọi con đường đến nơi này đă đóng, hai trung đoàn c̣n lại của Sư đoàn 23 đành đổ bộ bằng trực thăng xuống băi đáp trống trải ở phía Đông Buôn Ma Thuột. Họ bị ném vào hỏa ngục-v́ Sư đoàn 10 của Việt Cộng vừa thắng trận Đức Lập về đă ém sẵn, với đầy đủ tăng pháo. Trận hiệp đồng binh chủng kiểu chớp nhoáng (blitzkrieg) đă xoá sổ những ǵ c̣n lại của Sư đoàn 23 bạc mệnh, cùng với chiến đoàn biệt động quân số 21. Ngày tận thế cũng đến ngay sau đó với những đơn vị cạn kiệt lương thảo và quân dụng c̣n ở lại Tây Nguyên. Thiệu muốn cứu họ bằng cách cho mở đường máu rút qua tỉnh lộ 7B duy nhất c̣n lại, nhưng lại đưa họ vào ṿng ôm của tử thần đợi sẵn trên con đường chật hẹp và tồi tàn này.

Ngay sau đó tướng Giáp lệnh cho Quân đoàn 2 cho hai Sư đoàn 324 và 325 ṿng qua tuyến pḥng thủ của quân Sài G̣n trên các cao điểm gần Huế, đánh thốc xuống vùng ven biển cắt quốc lộ I, ngăn chặn không cho các đơn vị rút chạy của Việt Nam cộng ḥa có thể co cụm lại để củng cố lực lượng. Thế chia cắt lại h́nh thành, các đơn vị vùng chiến thuật I Việt Nam cộng ḥa lần lượt bị bóp vụn. Huế, rồi Đà Nẵng thất thủ vô cùng chóng vánh.

Hồi kết

Trong cuộc họp lịch sử của Bộ Chính trị vào 18-3-1975, tướng Giáp thông báo rằng thời cơ chiến lược mong đợi bấy lâu đă đến, nay là lúc QĐND Việt Nam tung ra một cuộc tổng công kích trên toàn chiến trường, nhằm đánh đổ chế độ miền Nam trước cuối năm 1975. Bộ Chính trị lập tức phê chuẩn đề xuất này của ông.

Quyết định này đă kết liễu cuộc chiến tranh. Giấy báo tử đề ngày 30-4-1975, nhưng số phận của chế độ Sài G̣n thực ra đă được định đoạt từ 18-3. Chiến thắng cuối cùng của tướng Giáp đồng thời là thắng lợi gây đổ máu ít nhất cho các bên.

Mớc-lơ Prai-nơ-nao

Lê Đỗ Huy (trích dịch)

nguồn http://www.qdnd.vn/QDNDSite/vi-VN/89/70/86/86/86/109369/Default.aspx

 

North Vietnam’s Final Offensive: strategic endgame nonpareil

Merle L. Pribbenow

http://25thaviation.org/Facts/id1044.htm

From Parameters, Winter 1999-2000, pp. 58-71.

Almost a quarter century ago, a third world country won the final battle of a long and difficult war through the use of an unexpected and decidedly modern strategy. The tutorial embodied in this victory is worth remembering today, in an age when there is a tendency to rely more on technology than on strategy and to assume that our enemy's strategic skills are as backward as his nation's economy, social structure, and technological base.

On 4 March 1975, the Communist People's Army of Vietnam (PAVN) launched the final campaign of its 30-year war with an attack on South Vietnamese positions in the Mang Yang Pass in the Central Highlands. The PAVN offensive, which ended in total victory less than two months later, was unlike any other in the war's long history. The difference? For the first time, PAVN's campaign strategy was not based primarily on the demonstrated willingness of its troops to die in greater numbers than those of its opponents. Moreover, it paid only lip service to the old dogma of a popular uprising. The PAVN campaign relied instead on deception, diversion, surprise, an indirect approach, and alternate objectives--in short, a highly cerebral strategy. PAVN finally mounted a campaign worthy of the modern, professional army the Vietnamese communist leadership worked so long to build.

Many historians maintain that given the massive reductions in US military aid to South Vietnam after 1973, any major communist offensive was bound to succeed. The Army of the Republic of Vietnam (ARVN) which confronted PAVN in early 1975, however, was no paper tiger.[1] While ARVN suffered from serious morale and logistics problems, and much of its leadership was abysmal, ARVN's soldiers were hardened veterans, and South Vietnam still maintained vast stockpiles of ammunition and equipment (as demonstrated by the massive quantities of war materiel captured by the North Vietnamese when the war ended). The final collapse of the South Vietnamese army may well have been inevitable, but the end would have been much bloodier and much longer in coming had the communists chosen a more direct, conventional plan of attack. In fact, the most damaging blow of the entire communist campaign may have been the crushing psychological blow their skillful and unexpected strategy dealt to the mind of ARVN's commander-in-chief.

The following account, drawn primarily from Vietnamese communist sources, is the story of the evolution of the PAVN campaign strategy. Unfortunately, the Vietnamese communists have not opened their military archives to an independent examination of the contemporaneous records of their 1975 campaign, nor have they allowed Western historians to conduct the kind of frank, open interviews of participants in these events necessary for a truly complete and balanced history. It was therefore necessary to base this account largely on histories and memoirs approved by the Vietnamese communist regime (although one of the primary sources, the memoirs of Lieutenant General Tran Van Tra, was not only officially disapproved, it was confiscated and banned by the regime immediately after publication because of Tra's blunt criticisms of senior North Vietnamese officers, especially Chief of Staff General Van Tien Dung). While a diligent effort was made to filter out self-serving and propagandistic elements contained in the various communist accounts and to check these accounts against available historical records, it must be acknowledged that some aspects of their version of events must be taken with several grains of salt.

Initial Planning

The seeds of the 1975 communist offensive were planted during two high-level military conferences held in Hanoi in March and April 1974 to review the military situation.[2] These conferences concluded that PAVN had regained the initiative in the South for the first time since the 1972 Easter Offensive. Following the January 1973 Paris cease-fire agreement, PAVN had greatly expanded its logistics lifeline to the South, the Ho Chi Minh Trail. With the trail complex no longer subject to US air attacks, North Vietnam was shipping massive quantities of supplies and equipment southward--80,000 tons of military supplies in 1973 alone, including 27,000 tons of weapons, 6,000 tons of petroleum products, and 40,000 tons of rice. One hundred thousand fresh PAVN troops had marched down the trail to the South during 1973, and another 80,000 were on their way south during the first half of 1974. PAVN's troop strength in the South, decimated by the 1972 Easter offensive, now stood at its highest level of the war--400,000 full-time soldiers.[3] PAVN could now see its own light at the end of the tunnel. The problem it faced was how to get there.

Following the March and April meetings, in May the General Staff in Hanoi completed a draft study titled, "Outline Study of a Plan to Win the War in the South."[4] This study was forwarded to PAVN's Commander-in-Chief, the legendary General Vo Nguyen Giap, for review. On 18 July 1974, after carefully evaluating this outline, General Giap called in his senior deputy, General Hoang Van Thai, and issued orders for the preparation of a full-fledged campaign plan aimed at securing total victory in the South by the end of 1976. Giap's overall concept was for a two-stage offensive consisting of a major attack by main-force regulars in the Central Highlands followed by an all-out assault against the defenses of Saigon.[5] (While most historians assert that Giap played little or no role in the 1975 attack, claiming that he had by this time been reduced to mere figurehead status by illness and the failures of his 1968 and 1972 offensives, North Vietnamese accounts describe Giap as being very much involved in the planning and overall command of the offensive from its inception through its final victorious conclusion.[6]) On 26 August 1974, after ripping up a number of earlier drafts, the General Staff completed the "Strategic Plan for 1975-76" and circulated it to senior party and military leaders for comments.[7] The finished plan was finally presented to party leaders for approval at a lengthy Politburo session in October 1974.[8]

Even though PAVN knew it had regained the strategic initiative in South Vietnam, the General Staff's initial plan was quite cautious because PAVN still had to contend with a number of serious problems.[9] Communist efforts to rebuild the Viet Cong's rural guerrilla base had largely failed, reaching only 30 percent of the 1973-74 plan's troop strength goals for local armed forces in the South.[10] Also, the communist urban political base was still very weak, and--most important--PAVN's regular forces were facing serious shortages of heavy weapons and ammunition.[11] In addition, while the North Vietnamese leadership believed it had a window of opportunity of several years to seek victory before the United States recovered from its own domestic turmoil, PAVN believed it must still be on guard against possible foreign intervention.[12] Giap's original instructions included the requirement that PAVN forces in North Vietnam be prepared for the possibility that the offensive might provoke a renewal of US bombing of North Vietnam or even a hostile amphibious landing on the North Vietnamese coast.[13] The General Staff decided that given these problems, PAVN could not mount a Tet 1968-style nationwide "general offensive and uprising" using large numbers of rural and urban guerrillas (which it did not have), nor did it have the resources to conduct a massive nationwide conventional attack along the lines of the 1972 Easter Offensive.

The deficiencies of PAVN's armored and heavy artillery forces, which were essential for attacks on heavily fortified ARVN regimental and divisional base camps, weighed heavily on the minds of the General Staff planners who drew up the plan presented to the Politburo in October 1974. Much attention has focused on the role ARVN's ammunition shortages played in the collapse of South Vietnam, but it is not generally known that PAVN suffered similar shortages. Soviet and Chinese military aid, especially in the category of "offensive weapons" (armor and artillery), had declined significantly since the Paris cease-fire.[14] PAVN's massive losses during the 1972 Easter Offensive exacerbated the shortages caused by these aid reductions. Also, much of PAVN's armor and artillery was in poor condition, and spare parts were in short supply.[15] Most PAVN artillery units, especially in the South, were still equipped only with light mortars, recoilless rifles, or single-tube rocket launchers. In the COSVN (Central Office for South Vietnam) area of operations, consisting of the southern half of the country, seven infantry divisions (the 3d, 4th, 5th, 6th, 7th, 8th, and 9th) and one corps headquarters (4th Corps) were supported by only five battalions of field artillery, two of which were equipped with captured US-made weapons for which there was little ammunition, and three understrength armored battalions.[16] PAVN's 2d Corps, with three artillery regiments belonging to its three infantry divisions, a corps artillery brigade, a tank brigade, and a separate armored battalion, could field a grand total of only 89 tanks and armored personnel carriers and 87 towed artillery pieces when it set off to attack Saigon in April 1975.[17]

The most critical problem, however, was an acute shortage of ammunition for PAVN's tanks and heavy artillery (i.e., field artillery and mortars 85mm or larger in caliber). During their 1972 offensive communist forces had fired more than 220,000 rounds of tank and heavy artillery ammunition, with 150,000 rounds having been used on the Quang Tri front alone.[18] By 1974, PAVN's entire stock of heavy artillery and tank ammunition, including all ammunition held by combat units at forward warehouses, and in North Vietnam's strategic reserves, totaled just 100,000 rounds.[19] The ammunition problem was so serious that the PAVN artillery command had to replace the larger weapons in a number of units with obsolete 76.2mm and 57mm artillery pieces drawn out of storage for which there still was adequate ammunition.

Because of these problems, the PAVN High Command decreed that all remaining heavy equipment and ammunition be carefully husbanded for one decisive push, to be launched only when a decisive opening finally arrived.[20] The 1975-76 plan allowed for the expenditure of only a little over ten percent of PAVN's remaining artillery ammunition stocks during the entire 1975 campaign. Forty-five percent of the remaining ammunition was allotted for the 1976 campaign, with the rest to be held in reserve.[21]

"Strategic Opportunity"

Although the October plan was cautious, it was also extremely opportunistic. The plan's overall goal was to create, by any means possible, what PAVN called a "strategic opportunity." This strategic opportunity might be a military coup in Saigon, a political upheaval resulting in the collapse of the South Vietnamese government, or a decisive military victory won by PAVN main force units.[22] Whenever and however the strategic opportunity appeared, the plan called for all communist forces to move immediately and decisively to exploit the opportunity by launching an all-out offensive aimed at securing total victory in the shortest time possible before "countries inclined towards intervention," meaning primarily the United States and China, had time to react.[23]

The offensive plan for 1975 was divided into three phases and was to be followed in 1976 by a "general offensive and general uprising" to complete the "liberation" of the South. The first phase of the 1975 plan, a limited offensive in the COSVN theater of operations, would last from December 1974 to February 1975. Phase two, the heart of the 1975 offensive, would begin in March 1975 with a corps-sized attack on the border outpost of Duc Lap on Route 14 at the southern end of the Central Highlands. The Duc Lap attack would be supported by secondary and diversionary operations in eastern Nam Bo (the general area from Saigon to the edge of the Central Highlands), the lowlands of Central Vietnam, and the Tri Thien area (the northern portion of South Vietnam's I Corps). Phase three, August-October 1975, was a hodge-podge consisting of follow-up attacks in northern Central Vietnam, consolidation of PAVN forces in the rest of South Vietnam, and preparations to carry out "contingency plans" as needed. The plan's goals for 1975 were to destroy a significant portion of ARVN's total troop strength; defeat the pacification program; extend PAVN's logistics and supply network down Route 14 all the way to the Mekong Delta; interdict enemy lines of communications; cripple the South Vietnamese economy; and incite political opposition to the South Vietnamese government.[24] All these different goals had the same ultimate purpose: to wear down South Vietnamese resistance and create conditions for the appearance of a "strategic opportunity."

Although the Politburo approved the General Staff plan during its October session, it was not completely satisfied and decided to meet again in December to review developments and make revisions in the plan as needed. Events now intervened to significantly alter the PAVN plan. During the October Plenum, the Politburo had concluded that based on the new domestic situation in the United States (the political aftermath of Nixon's resignation), America would not re-intervene in the war in any meaningful way.[25] This removed a central concern of the PAVN planners, giving them the freedom to consider more aggressive options. In addition, in a battle lasting from August to December 1974, the PAVN 304th Division overran the key outpost of Thuong Duc in the mountains west of Da Nang and defeated a series of determined counterattacks mounted by two ARVN divisions, the 3d and the elite Airborne Division. Thuong Duc convinced PAVN's leadership that their soldiers could now defeat even the best troops ARVN could muster.[26]

The two final elements in the evolution of PAVN's final strategy, however, were those nemeses of planners everywhere: luck and the human factor. The human in this case was an ambitious general, Tran Van Tra. Tra was COSVN's military commander, a position he had held off and on since 1964. Tra was blamed by many for devising the plan used in the disastrous Tet 1968 attack on Saigon, and his career had stagnated as a result.[27] Now he saw a chance to redeem himself.

As we have seen, a key element of the General Staff's overall plan was the requirement to be prepared to exploit immediately any strategic opportunity. When Tra received the order from the General Staff for COSVN to prepare a contingency plan for an immediate attack on Saigon in the event of a possible "political-military event" (a coup), he transformed this "contingency plan" into the foundation of the entire COSVN plan for 1975. Tra set the capture of Saigon during 1975, not 1976, as the ultimate goal of the COSVN plan. He demanded that Hanoi immediately send him three or four more divisions to carry out this plan, and he changed the limited phase one COSVN offensive called for by the General Staff into a major operation aimed at laying the groundwork for the attack on Saigon by seizing control of the entire province of Phuoc Long. When the High Command balked at his requests, Tra set off for Hanoi to make his case in person.

Arriving in Hanoi in late November 1974, Tra found that the General Staff had canceled most of his plans for the Phuoc Long attack and forbidden any use of COSVN's precious armor and heavy artillery assets in the smaller attacks that remained. Tra angrily began lobbying his old comrades in the party leadership, especially First Secretary Le Duan, to reverse the General Staff decision.[28] In the midst of his efforts, fortune finally smiled on Tra. During their initial attacks Tra's troops overran the small ARVN outposts at Bu Dang and Bu Na on Route 14. COSVN Military Command reported to Hanoi on 20 December that within the ruins of these two outposts PAVN forces had captured intact four 105mm howitzers and 7,000 rounds of artillery ammunition. This unexpected treasure trove stunned the leadership in Hanoi. Seven thousand rounds were more than half the number the General Staff had planned to expend nationwide during the entire 1975 campaign. Tra now argued that he could use this bonanza for his planned attack on the Phuoc Long province capital without even touching his current ammunition holdings.[29] In fact, PAVN could expect to capture even more ammunition at the larger bases. It was an argument the leadership could not resist. Tra was authorized to proceed with his original plans.[30] On 6 January the PAVN 3d and 7th Divisions completed the conquest of Phuoc Long province by taking the province capital and capturing another 10,000 rounds of artillery ammunition. The South Vietnamese did not make even a token effort to retake Phuoc Long, and while the United States threatened action by diverting the Enterprise aircraft carrier battle group toward South Vietnam, the Enterprise soon turned away and the threat evaporated.[31]

The unexpected Phuoc Long victory finally convinced the North Vietnamese leadership that their original plan was too conservative. The Politburo's assessment that the United States would not re-intervene in the war had been proven correct, the weakness of ARVN's defenses had been exposed, and, just as important, a solution to their most critical ammunition shortage--targeting and capturing ARVN artillery stocks--had finally been found.[32] In addition, the battle for Phuoc Long demonstrated to the Politburo that the plan for PAVN's main attack in 1975, the March offensive against Duc Lap by three PAVN divisions, was now outdated and would have to be changed. The plan approved in October had set two main goals for the Duc Lap attack: first, to clear Route 14 for use as a strategic transportation route for the final attack on Saigon, and second, to draw in and annihilate a significant portion of ARVN when it tried to retake the lost territory. Based on the lessons of Phuoc Long, it was now clear that if Duc Lap was attacked this second goal would not be met. Phuoc Long proved that the South Vietnamese were prepared to abandon remote and strategically unimportant areas such as Duc Lap. If the South Vietnamese did not try to retake Duc Lap, three entire PAVN divisions would be left sitting in the middle of nowhere with no one to fight, and the element of surprise would be lost. Tran Van Tra claims that it was he who first proposed changing the attack target to Ban Me Thuot. Whether or not Tra was first with the idea, the communist leadership embraced with open arms the prospect of seizing Ban Me Thuot.[33]

Ban Me Thuot was a city of over 100,000, the "capital" of the tribal peoples of the Central Highlands. It held the headquarters and rear base facilities of the ARVN 23d Division, including the tempting Mai Hac De supply complex with large stores of artillery ammunition. The city straddled a vital road junction where Route 14, running south from Kontum down to the northern approaches of Saigon, met Route 21, running east to the large coastal city of Nha Trang. If Ban Me Thuot was taken, PAVN forces could move swiftly by road north to take Pleiku from the rear, east to cut Vietnam in half, or south to attack Saigon. ARVN could not afford to lose such a strategic position and would be forced to mount a counterattack. This was doubly true because the families of the soldiers of the 23d Division were all housed in Ban Me Thuot--ARVN troops simply could not abandon their own wives and children without a fight. Ten years previously, the tiny hamlet of Binh Gia east of Saigon had been selected as the target of the first communist multi-regimental operation of the war (in December 1964) largely because many families of ARVN marines were housed in Binh Gia. PAVN commanders had known ARVN would rush to retake the hamlet in order to rescue their loved ones and laid a trap which destroyed the ARVN relief force.[34] Now PAVN repeated this tactic on a much larger scale. Because Ban Me Thuot was so lightly defended (by only the understrength 53d Infantry Regiment, an armored and an artillery battalion, and several Regional Force battalions[35]), a massive surprise attack on the city would quickly overwhelm its defenders. Once the city was taken, PAVN forces could deploy to block and destroy ARVN's counterattack while the ARVN relief force was caught out in the open without time to dig in.

On 7 January 1975, at the conclusion of the Politburo session during which the new plan was approved, First Secretary Le Duan laid out the goals of the new attack:

In Military Region 5 and the Central Highlands, use three main-force divisions to attack the Central Highlands, open up a corridor connecting the southern Central Highlands with eastern Nam Bo, and create conditions for the main-force troops to move quickly into eastern Nam Bo and coordinate with the [COSVN] main force troops in attacking Saigon. The opening battles will be fought to take Ban Me Thuot, break through to Tuy Hoa and Phu Yen, cut the Military Region 5 lowlands [and South Vietnam] in half, and create another direction from which to rapidly advance south and put pressure on Saigon.[36]

Prospects for the future were so promising that the Politburo, acting on a suggestion from General Giap, ordered the General Staff to prepare a new contingency plan for the total conquest of South Vietnam before the end of 1975.[37]

Two days later the Central Military Party Committee met and laid down specific goals for the 1975 Central Highlands Campaign:

Destroy four to five enemy infantry regiments, one to two armored squadrons, and inflict serious losses on ARVN 2d Corps units.

Liberate the provinces of Darlac, Phu Bon, and Quang Duc, with the city of Ban Me Thuot as the main target.

If the opportunity should arise, expand the attack to the north to liberate Pleiku and Kontum provinces or to the east to take Phu Yen and Khanh Hoa.[38]

To demonstrate the importance the leadership now attached to this operation, PAVN Chief of Staff General Van Tien Dung was ordered to depart immediately for the Ban Me Thuot area as the personal representative of the Politburo and to assume overall command of the Central Highlands Campaign.[39]

This new PAVN plan was daring and innovative. One senior South Vietnamese general, speaking after the fall of Saigon, saw in the PAVN strategy a reflection of B. H. Liddell Hart's strategy of the indirect approach.[40] PAVN's key blow would be directed not at the enemy's main army, but instead at a weakly defended strategic point which the enemy could not afford to lose. The plan emphasized the principles of mass, speed, surprise, and deception. Finally, the seizure of Ban Me Thuot would allow PAVN to select any of several different options for its next move, thus forcing ARVN, already spread thin, to guess where PAVN would strike next. Enactment of the plan would place the South Vietnamese in the position that Liddell Hart most favored for an enemy: "on the horns of a dilemma." It invited ARVN's commanders to make a mistake and ensured that PAVN was prepared to exploit any opportunity.

Executing the Plan

Events now began to move quickly. Units participating in the attack (including the 10th and 320th Divisions of the Central Highlands Front; the 968th Division from Laos; the 316th Division trucked south from North Vietnam; four independent infantry regiments; armored, artillery, and engineer units; and 8,000 recruits from North Vietnam) began arriving at their assembly areas.[41] Assured by their excellent espionage network that the South Vietnamese were still ignorant of their real intentions, and aware they could not keep their massive supply and logistics preparations a complete secret, the communists mounted a sophisticated deception campaign directly targeted against the strongest element of their opposition's intelligence apparatus: the electronic and aerial reconnaissance assets of South Vietnam and its US allies.[42] Strict radio silence was imposed on all units involved in the offensive.[43] PAVN deception personnel sent hundreds of fake radio messages, made unconcealed truck movements, and conducted bogus road-building operations, all aimed at convincing the South Vietnamese that the PAVN 10th and 320th Divisions were concentrating around Pleiku and Kontum and that these two cities in the northern Central Highlands were PAVN's true targets. This deception operation was so effective that a number of human source reports from prisoners and agents indicating that PAVN was in fact about to attack Ban Me Thuot were disregarded by the South Vietnamese commanders.[44]

By the end of February all PAVN units were in place. On 1 March the 968th Division attacked several small outposts west of Pleiku, focusing ARVN attention on the threat to that city. On 4 March the PAVN offensive kicked off with an attack by Regiment 95A which overran several small ARVN outposts guarding Route 19 in the Mang Yang Pass, thereby severing ARVN's main supply route to its forces in the Central Highlands. Farther east on Route 19 the 3d PAVN Division launched its own offensive, making further cuts on this vital road and tying down the ARVN 22d Division. The next day PAVN's 25th Regiment cut Route 21, the only other road from the coast to the Highlands, between Ban Me Thuot and Nha Trang. ARVN forces in the Central Highlands were now isolated and completely dependent on aerial resupply. The South Vietnamese air force's meager air transport assets were totally inadequate to conduct an airlift of this size. South Vietnamese President Nguyen Van Thieu and his General Staff realized that unless Routes 19 and 21 were reopened soon, ARVN forces in the Highlands would rapidly run out of food, fuel, and ammunition. On 8 March the PAVN 320th Division overran a district capital on Route 14 north of Ban Me Thuot, cutting the road to Pleiku and completing the isolation of Ban Me Thuot. The stage was set for the final attack, and ARVN still had not guessed that Ban Me Thuot was the target.[45]

Watching developments in Saigon, President Thieu and his General Staff could not tell where the main communist blow would fall. As part of the PAVN deception campaign and to prevent ARVN reserves from being sent to reinforce the Central Highlands,[46] in the days preceding the Ban Me Thuot attack communist forces had launched a wave of attacks throughout South Vietnam. In the north, on 5 March sapper and guerrilla forces attacked the lowlands of Quang Tri and Thua Thien, and on 8 March the PAVN 324th Division struck hard at ARVN's main defense line southwest of Hue.[47] To the south, on 8 March communist forces mounted a series of attacks in the Saigon area and the Mekong Delta, culminating in the capture of a key district capital northwest of Saigon.[48] President Thieu and his generals were befuddled. A nationwide communist offensive was clearly imminent, but what was its main target? Where was the danger the greatest? To Thieu and his generals, the answer appeared obvious: the capital, Saigon. PAVN's deception plan had worked to perfection.

On 9 March the PAVN 10th Division, with two infantry regiments (the 28th and 66th) and supported by only two 105mm howitzers with 50 rounds of ammunition, attacked and overran Duc Lap and all its outlying defensive positions within 24 hours. ARVN losses at Duc Lap totaled three battalions, including 14 artillery pieces and 20 armored vehicles.[49] After consolidating its victory, the 10th marched north toward Ban Me Thuot.

During the early morning hours of 10 March, 12 PAVN regiments launched a massive surprise attack on Ban Me Thuot. The 198th Sapper Regiment and two regular infantry battalions which had secretly infiltrated into the city struck Ban Me Thuot's two airports, the Mai Hac De supply depot, and the 23d Division headquarters. Five infantry regiments (three from the 316th Division, the 10th Division's 24th Regiment, and the battle-scarred veterans of the 325th Division's 95B Regiment) rolled into the city from three directions, led by 64 tanks and armored personnel carriers of the 273d Armored Regiment and under a curtain of fire laid down by the 78 heavy guns of the 40th and 675th Artillery Regiments.[50] The 232d and 234th Antiaircraft Regiments accompanied the attack columns, putting up an umbrella of antiaircraft fire so intense that South Vietnamese air force bombing attacks were largely ineffective and did almost as much damage to friendly forces as to their PAVN targets.[51] After 32 hours of combat, PAVN forces overran the 23d Division headquarters complex and captured the division's deputy commander.[52] General Dung informed Hanoi that his forces had captured 12 artillery pieces and 100 tons of artillery ammunition in Ban Me Thuot, assuring the worried General Staff that the offensive could proceed unhindered by ammunition concerns.[53] The North Vietnamese leadership immediately recognized the significance of their victory. During a Politburo meeting on 11 March, Le Duan broached the possibility that the strategic opportunity, the time to launch the final general offensive, might be imminent.[54] Victory in war goes to the side prepared to seize it. The North Vietnamese were prepared.

The drum roll of attacks, first seemingly directed at Pleiku, then Saigon and Hue, and now, unexpectedly, the assault on Ban Me Thuot, were psychological blows that stunned South Vietnam's leaders. Confused, desperate, and in what must have been a virtual state of shock, South Vietnamese President Nguyen Van Thieu made two momentous decisions on 10 and 11 March that sealed the fate of South Vietnam. Thieu still had not guessed that Ban Me Thuot was PAVN's main target. He was convinced, however, that he was facing an all-out offensive and that PAVN's ultimate target was Saigon. Thieu's first move was to order the immediate recall of the ARVN Airborne Division, the cornerstone of the defense of I Corps, to shore up Saigon's defenses.[55] As ARVN commanders tried to withdraw units and redeploy to fill the gap left by the Airborne's pull-out, the defenses of I Corps began to teeter like a house of cards. Second, as the North Vietnamese knew he would, Thieu ordered an immediate counterattack to retake Ban Me Thuot "at all costs."[56] With the road to Ban Me Thuot cut, ARVN II Corps Commander General Pham Van Phu was forced to send the two remaining regiments of his 23d Division into battle by helicopter, dropping five battalions on a landing zone east of Ban Me Thuot during the period 12-14 March with no armor and only limited artillery support. The regiments landed in the middle of a planned PAVN "killing zone." The 10th Division, newly arrived from Duc Lap and with powerful armored and artillery support, lay in wait. In four days of blitzkrieg-like attacks the 10th rolled over and destroyed what was left of the 23d Division and the 21st ARVN Ranger Group.[57] Meanwhile, the last remnants of ARVN's once-powerful army in the Highlands (19 ranger battalions, one infantry battalion, three armored squadrons, and six artillery battalions), their supply lines cut and with no prospect of resupply or rescue, were doomed.[58] Thieu's 14 March order to withdraw these forces from Pleiku down the unused and almost impassable Provincial Route 7B to the coast was an act of desperation aimed at saving what was left of his forces in the Highlands. The order was stupid, its execution abysmal, but, in context, it was understandable.

As General Dung's forces completed their destruction of the ARVN column withdrawing from Pleiku, General Giap ordered his forces around Hue to bypass the ARVN mountain defense line which had thrown back PAVN's initial attacks. Giap ordered PAVN 2d Corps to send its 324th and 325th Divisions to strike directly into the coastal lowlands, cut Route 1, ARVN's main line of withdrawal, and destroy retreating ARVN forces before they could regroup and consolidate.[59] Caught in the open and on the move, cut off and isolated, the retreating ARVN units were swept with panic. By 29 March, Hue, Da Nang, and all of ARVN I Corps were in communist hands.

Denouement

Meanwhile, during a historic Politburo session on 18 March, General Giap drove the final nail into South Vietnam's coffin with the last major strategic decision of his illustrious military career. Giap announced that the long-awaited strategic opportunity had now arrived. He recommended that PAVN immediately launch a nationwide general offensive to seize total control of South Vietnam before the end of 1975. North Vietnam's last strategic reserve, the elite 1st Corps, should now be committed to the battle. The Politburo instantly approved Giap's recommendations and issued orders for an all-out assault on Saigon.[60]

With this decision, the outcome of the war was no longer in doubt. The coroner's certificate lists 30 April 1975 as the time of death, but the shot that killed the Republic of South Vietnam was fired on 18 March by General Vo Nguyen Giap. Contrary to his well-earned reputation for ruthlessness, Giap's last victory was also his most bloodless.

NOTES

1. On the fighting prowess of ARVN in the late stage of the war, see Lewis Sorley, "Courage and Blood: South Vietnam's Repulse of the 1972 Easter Offensive," Parameters, 29 (Summer 1999), 38-56.

2. Military History Institute of Vietnam, History of the People's Army of Vietnam, Vol. II (Hanoi: People's Army Publishing House, 1994), pp. 461-62 (hereinafter HPAV); Hoang Van Thai, The Decisive Years: Memoirs of Senior General Hoang Van Thai, Joint Publications Research Service Report JPRS-SEA-87-084, 23 June 1987, p. 44.

3. HPAV, p. 458; Hoang Van Thai, p. 50.

4. HPAV, p. 461; Hoang Van Thai, pp. 37-39.

5. Hoang Van Thai, pp. 44-45.

6. See especially Hoang Van Thai, and Van Tien Dung, Great Spring Victory (Hanoi: People's Army Publishing House, 1976).

7. Hoang Van Thai, p. 66. According to this account, the man described by many as the architect of the 1975 victory, PAVN Chief of Staff Van Tien Dung, was "vacationing" abroad while the plan was being drawn up and got his first look at the plan only in August when he returned to Vietnam.

8. Ibid., p. 65.

9. Ibid., p. 47.

10. HPAV, p. 469.

11. Hoang Van Thai, pp. 60-61.

12. Ibid., pp. 56-57

13. Ibid., pp. 44-45.

14. HPAV, p. 469; Hoang Van Thai, pp. 36, 73. See also Arnold R. Isaacs, Without Honor (Baltimore: Johns Hopkins Univ. Press, 1982), pp. 334-35. Oleg Sarin and Lev Dvoretsky, Alien Wars (Novato, Calif.: Presidio Press, 1996), drawing on official Soviet sources, state that the reduction in Soviet military aid to North Vietnam actually began in the early 1970s.

15. HPAV, pp. 469-71; Hoang Van Thai, p. 79.

16. Tran Van Tra, Concluding the 30-Year War, Vol. 5 of his Memoirs (Saigon: Ho Chi Minh Cultural Publishing House, 1982), pp. 131-32.

17. HPAV, p. 543.

18. Tran Van Tra, p. 182.

19. HPAV, p. 469; Hoang Van Thai, pp. 42, 60.

20. Tran Van Tra, pp. 159, 161.

21. Ibid., p. 186.

22. Hoang Van Thai, p. 67.

23. Ibid., pp. 57, 68.

24. Ibid., pp. 68-69. See also HPAV, p. 488, and Tran Van Tra, pp. 162, 181, both citing Duc Lap as the target for the phase two attack in the Central Highlands.

25. Van Tien Dung, pp. 27-28; HPAV, p. 483.

26. HPAV, pp. 479-81; Hoang Van Thai, pp. 62-63.

27. Phillip B. Davidson, Vietnam at War: The History, 1946-1975 (London: Oxford Univ. Press, 1988), pp. 758-59; Stanley I. Kutler, ed., Encyclopedia of the Vietnam War (New York: Charles Scribner's Sons, 1996), p. 545.

28. Tran Van Tra, pp. 143-53, 156-57, and 172-74; Davidson, pp. 760-61.

29. HPAV, p. 485; Tran Van Tra, p. 173; Hoang Van Thai, p. 80.

30. Tran Van Tra, p.176; Hoang Van Thai, p. 80.

31. HPAV, pp. 485-86; Hoang Van Thai, p. 80; Davidson, pp. 762-63.

32. Hoang Van Thai, p. 81.

33. Tran Van Tra, pp. 180-83; Hoang Van Thai, pp. 81-85.

34. HPAV, p. 189.

35. Ibid., p. 493.

36. Hoang Van Thai, p. 85.

37. HPAV, p. 487; Tran Van Tra, p. 187.

38. HPAV, p. 488.

39. Ibid., pp. 488-89.

40. Stephen Kosmer, Konrad Kellen, and Brian Jenkins, The Fall of South Vietnam (Santa Monica, Calif.: RAND, 1978), p. 79.

41. Ibid., p. 491.

42. Frank Snepp, Decent Interval (New York: Random House, 1977), pp. 133-34; Tran Van Tra, pp. 211-12.

43. HPAV, p. 491.

44. Ibid., pp. 494-95; Snepp, pp. 171-74.

45. Hoang Van Thai, pp. 69-77.

46. Xuan Thieu, North of the Hai Van Pass, 1975 (Hanoi: People's Army Publishing House, 1977), cited in Nguyen Khac Ngu, Final Days of the Republic of Vietnam (Montreal: n.p., 1979), p. 219.

47. HPAV, p. 512; Nauyen Khac Ngu, p. 219.

48. Tran Van Tra, pp. 218-20; HPAV, p. 537-38.

49. HPAV, p. 498; Van Tien Dung, p. 120, map.

50. HPAV, pp. 498-501; number of tanks and artillery pieces taken from Thunder in the Highlands (People's Army newspaper), 8 March 1995.

51. HPAV, p. 501; Snepp, p. 181.

52. HPAV, p. 502.

53. Hoang Van Thai, p. 93.

54. Tran Van Tra, p. 223; Hoang Van Thai, p. 92.

55. Kosmer, Kellen, and Jenkins, p. 87; Davidson, pp. 779-80; Snepp, pp. 183-85.

56. Kosmer, Kellen, and Jenkins, p. 88; Davidson, p. 773.

57. HPAV, pp. 503-05.

58. Ibid., p. 506.

59. Ibid., p. 515; Xuan Thieu, p. 141, as cited in Final Days of the Republic of Vietnam, pp. 231-32.

60. Hoang Van Thai, pp. 100-01.

Merle L. Pribbenow retired from the Central Intelligence Agency in 1995 after 27 years as a Vietnamese linguist, operations officer, and Indochina area specialist. During the Vietnam War he served at the US Embassy in Saigon for five years and was evacuated from the Embassy by helicopter on 29 April 1975 upon the fall of Saigon.

* Ghi Chú: click Kỷ Niệm 30/4/75:"CUỘC THÁO CHẠY TÁN LOẠN" Frank Snepp , tướng Giáp nhận lệnh BCT góp ư tham mưu chiến dịch Hồ Chí Minh

 

Lê Đỗ Quư (dịch), QĐND, ngày 16/4/2010

NDVN, ngày 18/4/2010



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend