TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

Chữ Quốc Ngữ, Đông Kinh Nghĩa Thục Và Vấn Đề Cải Cách Chữ Việt Trong Thế Kỷ XX


Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn ccách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sánghôm ủa cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sánghôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED  

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc  

Giuse Phạm Hữu Tạo 

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

Thân Hữu  

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu:

Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

"Das Kapital" trở thành loại sách gối đầu giường.
Luận điểm cơ bản của chủ thuyết kinh tế thị trường - "Hăy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lư do tại sao ngày càng có nhiều ư kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ...

 

 

Gần đây, trong giới nghiên cứu kinh tế học theo luận thuyết Karl Marx quyển “Das Kapital” (Tư bản luận) của ông đang trở thành sách gối đầu giường cho nhiều người phương Tây. Trong “Das Kapital”, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu họ. Và giới trùm tư bản sẽ phải đổ sụp dưới sức nặng của những mâu thuẫn nội tại. Có vẻ như điều này hoàn toàn đúng với những ǵ đă xảy ra với tập đoàn tài chính bị phá sản mới đây Lehman Brothers cũng như nhiều tập đoàn tài chính tư bản khác. Chẳng phải tự nhiên mà trong bài viết gần đây trên Washington Post, tác giả Anthony Faiola đă đặt câu hỏi rằng liệu có phải chủ nghĩa tư bản Mỹ đang đến hồi cáo chung hay không? click Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu: Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

 

 

 

  

     NDVN: Năm 1924, Nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc đă viết: “...Người nông dân Việt Nam bị hành h́nh vừa bằng lưỡi lê của nền “văn minh” tư bản chủ nghĩa, vừa bằng cây thánh giá của Hội Thánh đĩ bợm....[Tổng Tập Văn Học Việt Nam, 1980, tập 36, NXBKH, tr 244]

 

   ....Chúng ta biết rằng chính phủ Pháp quyết định việc chinh phục Bắc Kỳ là do sự xúi giục của các ngài giáo phẩm thực dân (trong đó có giáo sĩ Alexandre De Rhodes) được mụ vợ Napoléon để tâm đỡ đầu. Và các vị đó đă làm những ǵ? Họ đă lợidụng ḷng hiếu khách của người Việt Nam để đánh cấp nhữngbí mật quân sự, vẽ những bản đồ nộp cho quân đội viễn chinh. Chúng tôi không biết hiểu tiếng La Tinhgọi cái công việc ấy là ǵ, chứ tiếng Pháp thông dụng th́ gọi đó là gián điệp” [TTVH/Việt Nam, tập 36, tr 408, Lên Án Chế Độ Thực Dân]

 

    Thủ tướng Phạm Văn Đồng viết về NGUỒN GỐC CHỮ QUỐC trong Tập San Nghiên Cứu Lịch Sử  như sau: “….chữ quốc ngữ ngày hôm nay được hoàn chỉnh và phong phú, do những bậc thức giả là các cụ Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh, các cụ ĐÔNG KINH NGHĨA THỤC, và là một công tŕnh tập thể khởi đầu từ gần 4 thế kỷ trước..., nhận ra tầm quan trong  của việc mở mang dân trí và cổ xúy việc truyền bá quốc ngữ, do đó Hội Truyền Bá Quốc Ngữ và Đông Kinh Nghĩa Thục ra đời vào thập niên 1930, và trong thời kháng Pháp, cán bộ ta truyền dạy chữ quốc ngữ cho nhân dân trong vùng tạm chiếm….Nói cho cùng chữ quốc ngữ ngày hôm nay phong phú và hoàn chỉnh là do những bậc thức giả cách mạng và toàn dân chung sức mà thôi….

 

    Ông giáo sĩ Alexandre De Rhodes, không phải là người đầu tiên phiên âm chữ quốc ngữ sơ khai, mà là do giáo sĩ Francesco de Pina, Bồ Đào Nha (Pina và giáo dân bản xứ dạy tiếng Việt cho De Rhodes), giáo sĩ Gaspar d’Amaral, Bồ Đào Nha, phiên âm tiếng Việt theo mẫu tự Bồ Đào Nha và La tinh. Đắm thuyền chết tại cửa biển Đà Nẵng ngày 15-12-1625.(có thể De Rhodes lấy được tập phiên âm này, nên khi Rhodes trở lại Rome, in cuốn Tự Điển Việt-Bồ-La, và chính Rhodes nói là đă học tiếng Việt từ giáo sĩ Francesco de Pina và giáo dân bản xứ dạy cho, NDVN) và giáo sĩ Antonio Barbosa, Bồ Đào Nha, hợp tác với Garpar do Amaral trong việc hoàn tất phiên âm chữ quốc ngữ. …Cho nên, phiên âm chữ quốc ngữ đầu tiên là do ba giáo sĩ Pina, Amaral và Barbosa, Bồ Đào Nha, chứ không phải là giáo sĩ Alexandre De Rhodes, mà một số người cứ ồn ào tôn vinh y là người đầu tiên sáng chế phiên âm chữ quốc ngữ….”

 

    Không những thế, Charlie Nguyễn Đôminic Bùi Văn Chấn, đă viết trong cuốn A. DE RHODES VÀ CHỮ QUỐC NGỮ do Giao Điểm, xuất bản 1998, từ tr 161 – tr 166, “THÁNH” PHANXICO XAVIE, * CỐ ĐẠO ĐẮC LỘ VÀ CHỮ QUỐC NGỮ, về chữ quốc ngữ như sau: “…Về vấn đề chữ quốc ngữ, tôi thiết nghỉ chúng ta không phải “biết ơn” đối với các cố đạoTây phương, nếu nghỉ rằng họ là người đầu tiên sáng chế ra chữ quốc ngữ. Lư do v́ họ không có ư định làm ơn cho dân tộc ta mà chúng chỉ muốn sáng chế ra một phương tiện có lợi cho việc truyền giáo gieo rắc biết bao tai ương cho đất nước ta mà thôi. Chúng thực sự là địch quân của tổ quốc Việt Nam. Chữ quốc ngữ là một “chiến lợi phẩm” do chúng ta tịch thâu được trong tay địch. Chúng ta không cần phải quay cổ lại để cám ơn bọn địch về việc chúng đă “cho” chúng ta những chiến lợi phẩm đó. Chúng ta cướp súng địch để giết bọn chúng và dẹp tan bọn tay sai bán nước truyền kiếp, bọn này tự biến ḿnh thành những kẻ xa lạ trên quê hương ḿnh…” tr, 166

 

    Và giáo sư Trần Chung Ngọc, trong phần Phụ Lục, cuốn PÉTRUS TRƯƠNG VĨNH KƯ – TUYỂN TẬP, do Lê Trong Văn, nxb Mẹ Việt Nam, giáo sư Ngọc phán xét ông giáo sĩ Alexandre De Rhodes CÔNG hay TỘI? như sau: “…Một tên giặc tới nhà chúng ta, tạora một thứ vũ khí để dễ bề quyến rũ con em nhẹ dạ theo chúng phản lại tổ tiên, chúng ta dùng vũ khí đó để mở mang đầu óc của tất cả những người trong gia đ́nh chúng ta bảo vệ được truyền thống luân lư đạo đức của gia đ́nh, bảo toàn gia tài của tổ tiên khỏi bị cướp đi, vậy chúng ta nên nhớ ơn những người trong gia đ́nh có sáng kiến dùng ngay vũ khí của địch đánh địch hay là chúng ta nên cám ơn kẻ đă mang vũ khí đến nhà chúng ta để cướp đi của cải và gây bất ḥa trong gia đ́nh chúng ta?

 

    Tôi hy vọng vấn đề công và tội của Alexandre De Rhodesnay đă sáng tỏ”

 

 

 

Cụ Lương Văn Can

Chữ Quốc Ngữ, Đông Kinh Nghĩa Thục

Và Vấn Đề Cải Cách Chữ Việt Trong Thế Kỷ XX

 

Nguồn gốc chữ Quốc Ngữ 1

 

 

 

    Ngay từ khi chuẩn bị phổ biến tri thức canh tân và chấn hưng đất nước, các vị lănh đạo Đông Kinh Nghĩa Thục (ĐKNT) đă lựa chọn đúng đắn và phát huy nhiều phương tiện cũ mới khác nhau.

 

* “ Soldat”: Binh Sĩ=Lính Tập=Lính Đạo=Bộ Đội Bao Hàm Ư Nghĩa Quân Sư

Xem h́nh
Nhân dân ta ngày nay, có được quang minh lịch sử, là do toàn dân quân ta được cha già dân tộc Hồ Chí Minh – Lê Duẩn – Lê Đức Thọ và Việt Minh Cộng Sản Đảng lănh đạo kháng chiến cơm vắt – quần cụt quyết tâm kiên cường dành Độc lập-Thống nhất-Chủ quyền Tổ quốc Việt Nam, bởi chiến công vĩ đại lịch sử Nhân loại là Đại Thắng Mùa Xuân 75, đánh cho giặc Pháp-giặc áo đen Vatican-giặc áo đen Khuyển sinh Công giáo bản địa-giặc Tin lành*-giặc Mỹ Ngụy tháo chạy chiến bại cút-nhào, mà hơn 100 năm bọn thực dân đế quốc da trắng Pháp-Vatican-Mỹ, ngụy danh mở mang nước “C” được đoàn quân gián điệp giặc áo chùng đen Vatican và giặc áo đen Khuyển sinh Công giáo bản địa tiền đạo mở đường tiến công xâm lăng chiếm thuộc địa và đô hộ bóc lột tàn bạo nhân dân ta và thế giới....

 

* Chữ "Plusieurs Soldats" Thời A.D. Rhodes - LƯ ĐƯƠNG NHIÊN

Chương Thâu

....Như vậy Tổng thống Diệm không có quyền bổ nhậm các giáo sĩ. Đó là chuyện thế kỷ 20, lúc mà Giáo Hội La Mă đă bị suy thoái sau Cách Mạng Pháp vào thế kỷ 18. Ai cũng biết thế lực của Giáo Hội La Mă vào thế kỷ 16 thật là ghê gớm. Ngay từ năm 1075 (tức thế kỷ thứ 11) Giáo hoàng Gregory 7 đă ban hành Tuyên Cáo "Dictatus Papae" gồm 27 điều trong đó có điều số 3 "Chỉ có Giáo Hoàng mới có quyền bổ nhậm hay băi chức các Giám Mục (1). Các Vua Âu Châu đều phải được Giáo Hoàng "xức dầu" mới được làm Vua. Thế th́ Pháp hoàng lúc đó làm sao có quyền bổ nhậm các giáo sĩ? Vậy Alexandre de Rhodes xin với nhà vua Pháp "plusieurs soldats" là xin nhiều binh lính chứ làm ǵ có chuyện xin các giáo sĩ? Thế mà các ông Đinh Xuân Lâm, Nguyễn Đ́nh Đầu, Chương Thâu nhập nhằng đ̣i cưỡng dịch "plusiers soldats" "chiến sĩ truyền giáo" th́ thật là hết sức bố láo!...

 

* Nhân Đọc Cuốn “Hành Tŕnh Và Truyền Giáo” Của Alexandre de Rhodes

Xem h́nh

Giáo sĩ ḍng Tên Alexandre de Rhodes (1591-1660) là một khuôn mặt truyền giáo lớn của Công giáo Pháp tại Đông Nam Á, và v́ vậy là khuôn mặt rất vĩ đại của Công giáo Việt Nam. Khoảng năm 1619, ông huy động được một tàu chiến của Pháp để đến xứ An Nam 6 tháng và bắt đầu công việc “khai hóa” dân bản xứ “mọi rợ”, dẹp bỏ “tà thần” (đặc biệt phải “chém ngă thằng Thích Ca”), thủ tiêu văn hóa bản địa để rao giảng đạo Chúa.

 

    Ngoài công tác truyền đạo, dĩ nhiên ông c̣n hai ư đồ khác nữa, một đạo một đời: Thứ nhất là mở rộng và củng cố vùng ảnh hưởng của giáo hội Pháp trong cuộc tranh chấp quyền lực giữa hai giáo hội Pháp - Bồ Đào Nha lúc bấy giờ, và thứ nh́ là thu thập và gửi những thông tin chiến lược của xứ An Nam về Paris để thúc đẩy triều đ́nh Pháp xâm lăng và đô hộ Việt Nam. Hai ư đồ nầy được ông chu toàn bằng cách khoác chiếc áo chùng thâm lên để che dấu súng cà nông bắn vào nước ta. Sau nầy, những “cha cố” như Pigneau de Béhaine, Lambert, Huc, Puginier, Pellerin, Taberd, … và bọn tay sai bản xứ phản bội tổ quốc đă triển khai ư đồ nầy và theo bước chân của ông để tay súng tay thập ác đô hộ nước ta trong gần 100 năm trời mà thôi....

 

* Biện Chính Với Ông Nguyễn Đ́nh Đầu Về Tên Giáo Sĩ Gián Điệp Alexander De Rhodes Sau khi bài Alexandre de RhodesNguoi Sai Gon co hay khong – công và tội  của tôi xuất hiện trên Tạp chí Hồn Việt số 17 (Tháng 11/2008), ông Nguyễn Đ́nh Đầu viết bài phản biện đăng trên tuần san Công giáo và Dân tộc với tựa đề  Lại một bài báo vu khống cha Đắc Lộ Tôi rất thích những ư kiến phản biện để làm sáng rơ vấn đề nhưng bài viết phải nghiêm túc và có chứng liệu, không nên chụp mũ và nhất là phải khách quan vô tư không bị chi phối bởi t́nh cảm, nhất là t́nh cảm tôn giáo....

 

* :Lại Một Bài Báo Vu Khống Cha Đắc Lộ: NGUYỄN Đ̀NH ĐẦU

 

             

GS. HOÀNG TUỆ

(1922-1999)
Bút danh: Hoàng Tuệ, Hoàng Lâm, Mai Lâm, Văn Lâm,

Sơn B́nh, Sta, Trần Lương, B́nh Long.

Sinh năm 1922, tại Quảng B́nh.

Công tác tại Viện Ngôn ngữ học: từ 1976 đến 1999

.

Tặng ông Nguyễn Đ́nh Đầu, bức thư giáo sư Tuệ gửi cho anh Trần Văn Thông nói về nhóm ông (Công giáo tiến hành) - giáo dân và Giáo Hội Công Giáo Việt gian bất chấp sự thật lịch sử dân tộc và tội ác giáo sĩ  Công giáo La Mă (Pháp-Tây Ban Nha-Bồ Đào Nha) đối với đất nước ta, trong số giáo sĩ ác ôn đó có gián điệp giáo sĩ Alexandre De Rhodes xúi thực dân Pháp xâm lăng đô hộ đất nước ta trên 100, và chính Rhodes đă xác nhận không phải là người đầu tiên sáng chế chữ quốc ngữ bán khai, mà là do giáo sĩ Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha biên soạn, Rhodes chỉ in ấn mà thôi. Thêm vào đó, gs. Nguyễn Khắc Xuyên, (nhóm ông) ra Hà Nội có quỳ tạ lỗi gs Tuệ tha cho NKX đă viết những lời thô tục bất kính đối với gs Tuệ…  

    Một trong các phương tiện đặc sắc nhất chính là chữ Quốc ngữ (CQN), các vị đă soạn sách dạy đọc viết và sử dụng thứ chữ từng bị coi là "của Tây" để phục vụ hữu hiệu cho người Việt Nam, nhất là giới b́nh dân ở  miền Bắc.

   Bài viết sau đây đánh giá công lao to lớn đó và chỉ ra rằng quá tŕnh cải cách và tiêu chuẩn hoá CQN của con cháu đă thể hiện những bước tiếp của tư duy đổi mới liên tục, mang lại những kết quả có ư nghĩa rất cơ bản cho cuộc hội nhập thế giới trong kỷ nguyên thông tin.

    Nguồn gốc chữ Quốc Ngữ  1

    CQN là một công tŕnh tập thể khởi đầu từ gần 4 thế kỷ trước, trong đó nổi lên vai tṛ quan trọng của nhiều linh mục người Âu như Francesco de Pina (1585-1625), Gaspar de Amaral (1594-1646), Antonio Barbosa (1594-1647), Alexandre de Rhodes (1591-1660) 2, với sự hợp tác của các trợ giảng và nho sinh tín hữu ở cả hai miền Bắc Nam, đáng tiếc chỉ được ghi lại tên thánh chứ không đầy đủ tên họ Việt (v́ sợ khủng bố đạo Ki Tô ngày đó?). Trước khi đến Việt Nam vào 1615, Hội truyền giáo ḍng Tên 3 (S.C. de Propaganda Fide) có nghiên cứu nhiều năm về ngữ âm tiếng Nhật và đă xuất bản các từ điển liên quan 4  Alexandre de Rhodes trở về Roma khi các linh mục nói trên không c̣n nữa. Dựa trên kết quả của cả nhóm, ông đă biên tập, bổ sung phần Latin và cho in "Từ điển Việt-Bồ-Latin" 5 năm 1651 (ảnh trái) mà bài diễn giảng vắn tắt về tiếng Đàng Ngoài trong từ điển này có thể coi như tài liệu khảo cứu ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên.

    CQN là một công tŕnh tập thể khởi đầu từ gần 4 thế kỷ trước, trong đó nổi lên vai tṛ quan trọng của nhiều linh mục người Âu như Francesco de Pina (1585-1625), Gaspar de Amaral (1594-1646), Antonio Barbosa (1594-1647), Alexandre de Rhodes (1591-1660) 2, với sự hợp tác của các trợ giảng và nho sinh tín hữu ở cả hai miền Bắc Nam, đáng tiếc chỉ được ghi lại tên thánh chứ không đầy đủ tên họ Việt (v́ sợ khủng bố đạo Ki Tô ngày đó?). Trước khi đến Việt Nam vào 1615, Hội truyền giáo ḍng Tên 3 (S.C. de Propaganda Fide) có nghiên cứu nhiều năm về ngữ âm tiếng Nhật và đă xuất bản các từ điển liên quan 4  Alexandre de Rhodes trở về Roma khi các linh mục nói trên không c̣n nữa. Dựa trên kết quả của cả nhóm, ông đă biên tập, bổ sung phần Latin và cho in "Từ điển Việt-Bồ-Latin" 5 năm 1651 (ảnh trái) mà bài diễn giảng vắn tắt về tiếng Đàng Ngoài trong từ điển này có thể coi như tài liệu khảo cứu ngữ pháp tiếng Việt đầu tiên.

    Một cuốn sách khác cũng in ở Roma, "Phép giảng tám ngày cho kẻ muốn chịu phép rửa tội mà vào Đạo Thánh Đức Chúa Trời" 6, có lẽ là giáo tŕnh thứ nhất viết bằng CQN, phản ánh tiếng Việt của giữa thế kỷ XVII dưới dạng c̣n khó đọc. Sau khi CQN ra đời, v́ nhiều nguyên nhân khác nhau, chữ Nôm và chữ Hán vẫn là phương tiện truyền giáo chủ yếu trong khoảng 200 năm. Trong bản thảo "Từ điển Việt-Latin" viết xong năm 1772 với những lựa chọn và cải tiến của giám mục Pháp Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) - được giám mục Taberd 7 biên tập và đem in ở Ấn Độ năm 1838 – tự dạng CQN đă định h́nh gần như hiện nay, nhưng đến giữa thế kỷ XIX, dường như CQN vẫn chưa ra khỏi phạm vi giới linh mục Ki Tô giáo.

   

    Thực dân Pháp xâm lược và bắt đầu khai thác Việt Nam 8

    • 1859 thực dân Pháp tấn công Huế và Sài G̣n. 1862 chúng chiếm được ba tỉnh miền đông của Nam Bộ, 1867 chiếm nốt ba tỉnh miền tây, cử Thống sứ cai trị Nam Kỳ thuộc địa.

    • 12-1873 Pháp chiếm Hà Nội lần thứ nhất. 9-1876 tại Hội nghị Địa lư tại Bruxelles (Bỉ), 5 đế quốc gồm Pháp, Đức, Áo-Hung, Ư, Nga bắt đầu vạch biên giới thuộc địa trên bản đồ thế giới. Nhóm họp Đại hội Berlin trong 1 tháng (từ 13-6 đến 13-7-1878) để chia chác thuộc địa.

    • 4-1882 Pháp chiếm Hà Nội lần thứ hai. Pháp giành quyền bảo hộ ở Trung Bộ và Bắc Bộ (25-8-1883), bổ nhiệm Thống sứ Trung-Bắc Kỳ là P.-R. Lemaire, đến 1885 thay bằng P.-R. de Courcy.

    • Trong một năm các quan đại thần Huế lập rồi giết 3 vua trước khi Hàm Nghi lên ngôi (7-1884). Từ 15-11-1884 đến 26-2-1885 Đại hội Berlin lần 2 họp dài hơn 2 tháng chia chác lại thuộc địa.

    • 5-7-1885 vua Hàm Nghi đánh úp Pháp không xong, vào rừng kêu gọi Cần vương.

    • 1886 GS Paul Bert cựu bộ trưởng Giáo dục thay P.-R. de Courcy làm Thống sứ Trung-Bắc Kỳ.

    • 10-1887 Pháp lập Liên minh Đông Dương. Bắt đầu khai mỏ than lộ thiên ở Ḥn Gai.

    • 1888 Toàn quyền Đông Dương E.Richaud bắt Hàm Nghi đày đi Algérie, ép vua Đồng Khánh nhượng đất Hà Nội, Hải Pḥng, Đà Nẵng.

    • 1889 Pháp độc quyền thuốc phiện, muối và rượu ở Đông Dương. Thành Thái lên ngôi lúc 10 tuổi.

    • 1891 GS J.-L. de Lanessan (phái ôn hoà) làm toàn quyền Đông Dương (đến 1894).

    • 1893 Hội nghị Bangkok họp ngày 3-10-1893 phân các vùng ảnh hưởng của Anh, Pháp ở Viễn Đông: Pháp sáp nhập Lào vào Liên minh Đông dương, Anh chiếm Thái Lan.

    • 30-5-1894 Pháp thành lập Bộ thuộc địa. 1895 cử P.A. Rousseau làm Toàn quyền Đông Dương.

    • 1897 Paul Doumer làm toàn quyền Đông Dương, lập đồn điền cao su, xây cầu Long Biên và đường xe lửa xuyên Việt.

    • 1902 Paul Beau làm toàn quyền Đông Dương, chú trọng giáo dục, y tế.

    • 3-1907 thành lập trường ĐKNT, mới đến tháng 12 đă bị Pháp đóng cửa. Vua Thành Thái bị phế truất (9-1907), Pháp đưa Duy Tân lên ngôi lúc 8 tuổi.

    • 1908 Toàn quyền Đông Dương A. Klubukowski (phái bảo thủ) đàn áp tàn bạo ĐKNT và yêu cầu Nhật trục xuất những người tham gia Đông Du. Phong trào Duy tân nổ ra ở Trung Kỳ...

    Quá tŕnh phổ biến chữ Quốc Ngữ thời Pháp thuộc

    Sau khi chiếm Việt Nam, Pháp thấy chữ Quốc Ngữ trở nên cần thiết cho việc thay nền hành chính nhà Nguyễn dựa trên chữ Hán và đă dần dần quy định bằng nhiều văn bản để đặt nó vào vị trí thứ 2 dưới tiếng Pháp 9 như sau:

    • Ngày 14-11-1874, Đô đốc Hải quân - Thống soái Nam kỳ François Krantz kư nghị định mở trường Chasseloup-Laubat (tên bộ trưởng Hải quân Pháp) ở Sài G̣n để dạy tiếng Pháp và chữ Quốc ngữ cho con em của quan chức người Pháp và người Việt đang cai trị Nam kỳ.

    • Ngày 6-4-1878, Đô đốc Hải quân - Thống soái Nam kỳ Louis Lafont ra nghị định số 82 bắt buộc các công văn, thư từ hành chính phải viết bằng chữ Quốc ngữ thay v́ chữ Hán hay chữ Nôm.

    • Ngày 17-3-1879, Louis Lafont thiết lập Sở Học chánh Nam kỳ và đặt chương tŕnh giáo dục hệ Pháp-Việt đầu tiên ở Nam kỳ.

    • Ngày 18-11-1896, Toàn quyền Đông Dương Paul Armand Rousseau kư nghị định mở trường Quốc Học Huế ở Trung kỳ.

    • Năm 1898, Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer kư sắc luật đưa chữ Quốc Ngữ vào các kỳ thi, nhưng măi 11 năm sau (1909) mới được áp dụng.

    • Ngày 27-4-1904, Toàn quyền Đông Dương Paul Beau ra nghị định thiết lập chương tŕnh giáo dục hệ Pháp-Việt ở Bắc kỳ.

    • Tháng 5-1906, dụ của vua Thành Thái về tổ chức giáo dục hệ 3 cấp cho bản xứ được một nghị định của Paul Beau phê chuẩn: ở cấp I, học sinh học cả chữ Hán và chữ Quốc ngữ; lên cấp II chỉ c̣n học chữ Hán, chữ Quốc ngữ và một phần tiếng Pháp không bắt buộc; đến cấp III th́ cả 3 thứ chữ đều bắt buộc học như nhau.

   Tư tưởng và hành động của Đông kinh nghĩa thục

    Khi thực dân Pháp mới sang, thái độ tự nhiên của đa số những người yêu nước Việt Nam là chống đối hoặc bất hợp tác và từ căm thù đi đến tẩy chay mọi biểu hiện văn hoá phương Tây. Dù tổ quốc bị phong kiến Trung quốc xâm lược nhiều lần, triều Huế vẫn coi văn minh Hoa Hạ là mẫu mực. Những người cực đoan c̣n kết luận đơn giản Tây là giống dă man v́ không đồng văn (cùng theo Nho giáo) và đồng chủng (cùng da vàng) với ta, quên rằng nếu thế th́ Phật cũng mọi rợ. Nhiều người chỉ phiến diện đánh giá văn minh Pháp qua hành động hại nước của lũ tay sai thực dân, xem nhẹ công lao phổ biến tri thức của Trương Vĩnh Kư, Húnh Tịnh Của và các học giả khác.

    Tư liệu  10 cho biết rằng cụ Nguyễn Đ́nh Chiểu không dùng các sản phẩm công nghiệp Pháp, thậm chí c̣n cấm con cháu và người nhà dùng xà pḥng; cụ nghè Nguyễn Ngọc Liên bắt gia đ́nh tiếp tục búi tó và không dùng máy khâu để may áo quần; năm 1886 cụ Á nguyên Phạm Ngọc Chất, tri phủ Tĩnh Gia chỉ đốt đèn dầu lạc để đọc sách ban tối, đến tận 1891 cụ nghè Đặng Hữu Dương, án sát Hà Nội và cụ phó bảng Nguyễn Âu Chuyên, bố chánh Bắc Ninh dự tiệc Tây về vẫn lên án khiêu vũ khơi động t́nh dục bất chính (trong khi cô đầu, thuốc phiện được cho là cao sang!) v.v..

    Nhắc như thế để thấy những tư tưởng và hành động ngay đầu thế kỷ XX của các vị lănh đạo phong trào ĐKNT thật là tiến bộ và dũng cảm trước số đông thủ cựu. Các sĩ phu Tân học này không chỉ chống thực dân Pháp mà c̣n chống triều đ́nh bù nh́n và sự mê tín ngu dốt. Các cụ nêu tấm gương chói lọi về chí tự chủ tự cường nhằm đưa đất nước tiến lên, với ư thức tiếp thu thành tựu dân chủ phương Tây, chống phong kiến nhưng ǵn giữ những tinh hoa văn hoá của Việt Nam. Những nét chủ yếu về tư tưởng tiên phong và hành động thiết thực đổi mới xă hội của ĐKNT bao gồm:

    1. T́m ṭi, phân tích và đánh giá các nguyên nhân chủ quan, khách quan đang làm yếu hèn giống ṇi, tŕ trệ đất nước.

    2. Mở cửa thông ra quốc tế, chọn lọc các tiến bộ bên ngoài và những truyền thống tốt đẹp của Việt Nam.

    3. Đi ngược các chính sách ngu dân và phản động. Kêu gọi cải cách dân chủ liên tục, không nóng vội « đốt cháy các giai đoạn lịch sử ».

    4. Chú trọng phát triển công nghiệp, thương mại đi đôi với phát triển con người. Ưu tiên thực nghiệp, thực học và phê phán lối học khoa cử giáo điều.

    5. Khởi xướng xă hội hoá giáo dục. Mở các trường tư thục kiểu mới để tự thực hiện chương tŕnh giáo dục với nội dung thực tiễn phù hợp từng lứa tuổi và tầng lớp người, gắn với mục tiêu “nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài”.

    6. Chủ trương tôn trọng pháp quyền và b́nh đẳng nam nữ. Mưu cầu các thành tựu vật chất, khoa học và nghệ thuật của ta sẽ làm dân tộc trường tồn bất diệt.

    7. Nêu rơ lịch sử giành độc lập, bảo vệ và chấn hưng đất nước của tổ tiên và các dân tộc để làm tấm gương noi theo, v.v...

    Các vị sáng lập trường ĐKNT đă tiến hành đầy đủ mọi khâu chuẩn bị và thậm chí bắt đầu mở lớp ngay sau Tết, 2 tháng trước khi thực dân Pháp đồng ư cấp giấy phép hoạt động. Các vị chủ động lợi dụng việc Toàn quyền Đông Dương khi đó là Paul Beau đă khá quan tâm đến giáo dục nhằm đào tạo thêm các viên chức bản xứ. Nếu chỉ tuyển dụng viên chức từ chính quốc th́ sẽ rất khó khăn và tốn kém (số viên chức người Pháp ở Đông Dương năm 1906 đă là 4390 người). Paul Beau sau khi nhận nhiệm vụ đă lập ra Nha Học chính Đông Dương (cuối 1903), rồi Đại học Đông Dương (giữa 1906) “có nhiệm vụ phổ biến ở Viễn Đông, chủ yếu thông qua tiếng Pháp, những kiến thức và phương pháp của châu Âu” 11  Phái thực dân bảo thủ đă chỉ trích ngay kế hoạch này, coi đó là “...một sai lầm tày trời”.

    Tuy nhiên những hoạt động của Paul Beau và một số người tiền nhiệm ôn hoà, mặc dù có mục tiêu đào tạo tay sai củng cố ách đô hộ, nhưng thực chất cũng lại làm cho nhiều nhà nho trẻ thức tỉnh và thấy có thời cơ thực hiện chấn hưng văn hoá dân tộc cho rộng răi nhân dân.

    Những áng thơ văn và sách giáo khoa của ĐKNT, bên cạnh việc cung cấp nhiều hiểu biết thực tế mới mẻ, lại c̣n khơi dậy mạnh mẽ ḷng yêu nước và căm thù giặc ấp ủ trong dân ta.

    Vai tṛ chữ Quốc ngữ trong Đông kinh nghĩa thục

    Cuối thế kỷ XIX, đế quốc Pháp đă hoàn thành cuộc xâm lăng của ḿnh và bắt đầu ồ ạt khai thác tài nguyên trên toàn bộ cơi Đông Dương. CQN thực tế đă ra đời từ rất lâu, nhưng bấy giờ mới bắt đầu được sử dụng chính thức tại Việt Nam dưới sự thống trị và áp đặt của chính quyền thực dân. Là thứ chữ dễ học nhất, CQN đă nhanh chóng thay thế chữ Nôm, vượt ra khỏi khu vực quan lại, t́m đến các tầng lớp xă hội có mức sống cao, thông qua văn chương báo chí, trước hết ở Nam Kỳ. Vẫn chỉ được đứng dưới chữ Pháp và chữ Hán, c̣n phải mất vài chục năm sau th́ CQN mới thực sự lan toả từ giới trí thức và thị dân sang đại đa số đồng bào ta.

    Mở đầu tiến tŕnh này, khẩu hiệu chấn hưng giáo dục dựa trên ḷng ham học của toàn dân và biện pháp phổ biến văn hoá thực nghiệp chủ yếu bằng CQN đă đóng một vai tṛ bản lề, chuẩn bị con đường đưa đến sự thành công của sự nghiệp giải phóng dân tộc về sau. Các yếu nhân ĐKNT đă nhận ra ngay CQN như là một phương tiện truyền thông đầy ưu việt rất phù hợp với giới b́nh dân đông đảo ở Bắc Kỳ, hơn hẳn chữ Hán và tiếng Pháp (là hai môn khác cũng được dạy trong ĐKNT, chủ yếu dành cho giới có học hoặc có vị trí xă hội cao). Chủ trương dạy CQN thể hiện đồng thời một loạt tư tưởng và hành động tiến bộ của ĐKNT như đă tóm tắt trên đây. Các cụ đă không câu nệ, cầu toàn mà chớp thời cơ soạn ngay sách giáo khoa và dạy đọc/viết CQN một cách nhanh chóng để phổ biến tri thức đến mọi người.Các sự kiện chấn động xă hội liên tiếp trong 2 năm 1907-1908 đă chứng minh chủ trương đó hoàn toàn là đúng và có hiệu quả rất lớn, làm bất ngờ thực dân Pháp.

    Cho đến cuối năm 1907, tổng số lượt học viên trực tiếp của các chi nhánh ĐKNT đă từ vài chục vọt lên đến khoảng 8000 người 12. Chính v́ vậy mà thực dân Pháp vội vàng đóng cửa trường, tịch thu tiêu huỷ tài liệu 13, bắt giam và kết án rất nặng 14 các nhà lănh đạo ĐKNT. Năm 1908 phong trào Duy tân bùng nổ ở Trung Kỳ và cũng bị đàn áp dă man như vậy.

    Ngày 25-6-1908, chính quyền Pháp vội cử Klobukowski, một viên quan thực dân bảo thủ sang thay Paul Beau. Hắn đă lo sợ dân trí Việt Nam tăng lên quá nhanh đến mức phải vội vàng đóng cửa cả Đại học Đông Dương mới 1 tuổi đời với lư do có quá ít sinh viên được tiếp tục học năm thứ hai 15

    Những người tham gia Đông kinh nghĩa thục, những vị đă cương quyết từ bỏ lối học tầm chương trích cú chỉ cốt lấy bằng ra làm quan, những vị đă chăm chỉ học hỏi và sử dụng hiểu biết của phương Tây để thực hiện mục tiêu giành độc lập cho Việt Nam đă để lại một bài học to lớn mà sau đó các trí thức Việt Nam vẫn thấy cần thiết tiếp tục phân tích, phát triển và áp dụng.

    Có lẽ một phần v́ vậy mà đến 10 năm sau (1917), triều đ́nh Huế sẽ phải ra chỉ dụ băi bỏ hoàn toàn lối giáo dục bằng chữ Hán và thay bằng một nền giáo dục dựa vào tiếng Pháp và chữ Quốc Ngữ.

    Một số cải cách quan trọng liên quan đến chữ Quốc Ngữ

    Tinh thần của phong trào ĐKNT vẫn c̣n nguyên giá trị đến tận thời kỳ đổi mới, hiện đại hoá rồi công nghiệp hoá ở Việt Nam. Ngoài những cống hiến của ngành ngôn ngữ và giáo dục, c̣n có sự đóng góp bước ngoặt của giới khoa học công nghệ. Năm 1977 chiếc máy vi tính đầu tiên của nước ta ra đời tại Viện KH Tính toán và Điều khiển. Cũng tại đó năm 1980, CQN lần đầu tiên được gơ vào máy vi tính, hiển thị trên màn h́nh và in ra giấy. Tập thể tác giả đă mở rộng quan niệm về biểu diễn CQN sao cho máy tính có thể trao đổi, lưu trữ và xử lư tiếng Việt bằng cách thêm rất nhiều kư tự mới 16 (từ vài chục lên 144), phù hợp để mở cửa ra thế giới bên ngoài.

    Sau nhiều năm t́m ṭi, thảo luận và thử nghiệm ở nhiều cơ quan khác nhau khắp trong nước và nước ngoài, bộ mă quốc gia CQN dùng cho trao đổi thông tin lần đầu tiên được tiêu chuẩn hoá (TCVN 5712:1993), thống nhất chấm dứt hơn 40 bộ mă khác. Những tác động xă hội của nó là vô cùng rộng răi và thể hiện từng giờ từng phút ở bất cứ nơi nào của thế giới đang có người dùng CQN trên máy vi tính.

    Tiến đến thiên niên kỷ thứ ba, bộ mă chữ đa ngữ Unicode đă trở thành tiêu chuẩn chính thức với tổ chức tiêu chuẩn hoá quốc tế ISO mà Việt Nam là thành viên. Chính phủ đă giao cho chúng tôi dự thảo, hiệu chỉnh và phê duyệt kỹ thuật tiêu chuẩn quốc gia TCVN 6909:2001, trong đó mọi kư tự CQN đều có mặt và trở thành tương hợp với bảng mă ISO/Unicode của toàn thế giới. Chính phủ CH XHCNVN quy định áp dụng thống nhất tiêu chuẩn này kể từ 1-1-2003 trong mọi cơ quan nhà nước. Đến nay có thể nói quá tŕnh chuyển đổi các cơ sở dữ liệu văn bản cũ sang bộ mă mới đă gần như xong trong cả nước và đấy là một công việc khổng lồ.

    Các bộ mă quốc gia TCVN cho chữ Nôm, chữ Thái Việt Nam, chữ Chăm cũng đă được công bố. Bước tiếp theo sẽ là thống nhất bàn phím tiếng Việt, bảng mă các dân tộc khác ở VN và các đơn vị chữ viết, âm học, ngữ pháp để tiến tới xử lư tự động một phần lớn các văn bản tiếng Việt. Rất mong có dịp hợp tác và tiêu chuẩn hoá cùng các nhà khoa học ngành khác.



  1. Xem thêm bài “Lược sử chữ Quốc Ngữ”, Đông Tỉnh, http://dongtac.net
  2. Xem thêm bài “Alexandre de Rhodes”, Đông Tỉnh, http://dongtac.net
  3. Do Giáo hoàng thành lập vào năm 1541. Xem thêm bài “Ḍng Tên” , C. Nguyễn, http://dongtac.net
  4.  "Dictionnarium Latino- Lusitanum ac Japonicum ex Ambrosii Calepini volumine depromptum", Amacusa, 1595; và "Vocabulario da Lingoa de Japam com a declaraçă em Portuguez", Nangasaqui, 1603.
  5. A. Rhodes: "Dictionnarium annamiticum, lusitanum et latinum", Roma, S.C. de Propaganda Fide, 1651.
  6.  A. Rhodes: "Catechismus pro ijs, qui volunt suscipere Baptismum, in octo dies divisus", Roma, S.C. de Propaganda Fide, 1651.
  7. Nam Việt-Dương Hiệp Tự vị, "Dictionarium anamitico-latinum" primitus inceptum ab P. J. Pigneaux, episcopo adranensi, vicario apostolico Cocincinae &c ; dein absolutum et editum a I. L. Taberd, episcopo isauropolitano, vicario apostolico Cocincinae. Serampore, Ex Typis J. C. Marshman, 1838.
  8. “1885: le tournant colonial de la République. Jules Ferry contre Georges Clemenceau, et autres affrontements parlementaires sur la conquête coloniale” (nxb La Découverte, 4-2006)
  9. Văn khố Pháp: công văn của Thống sứ Nam Kỳ, rồi Toàn quyền Đông Dương và các quan chức khác ngoài Bộ trưởng. 1861-1911. Ref. FR CAOM GGI B 220.
  10. Đặng Hữu Thụ: “Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954”. Paris 1999.
  11.  Trích Điều 1 Nghị định 1514A ngày 16-5-1906 về việc thành lập Đại học Đông Dương (Văn khố Pháp).
  12. Thư của Giám học ĐKNT Nguyễn Quyền gửi phái viên Justin Godard đăng trên báo La Luttle xuất bản tại Sài G̣n ngày 17-1-1937 (trích dẫn theo Đặng Hữu Thụ trong: Làng Hành Thiện thời Tây học cho đến năm 1954).
  13.  Làm cho ngày nay chỉ c̣n sót lại không nhiều ấn phẩm, chủ yếu được tập hợp trong: Văn thơ ĐKNT (nxb Văn hoá, Trung tâm Lưu trữ Quốc gia 1 Hà Nội 1997), Văn thơ cách mạng Việt Nam đầu thế kỷ XX (Đặng Thai Mai, nxb Văn học, Hà Nội 1974), ĐKNT phong trào cải cách văn hoá đầu thế kỷ XX (Chương Thâu, nxb Hà Nội 1982).
  14. Gồm nhiều án tử h́nh, chung thân, biệt xứ Côn Đảo, Cao Miên, nhẹ nhất cũng phải 5 năm tù phát văng miền núi.
  15. Trường này lúc đó phải học buổi tối v́ giảng viên chủ yếu là kiêm nhiệm, sau năm đầu, trong số 193 sinh viên chỉ đủ điểm lên lớp được có 41 người.
  16. Thí dụ như F, Z và các dấu @, #, &, <, > |, , v.v

   

   Trang nhà Đại Học Quốc Gia Việt Nam

   NDVN, ngày 21/7/09

 

Ghi chú:

 

Francesco do Pina

Sinh năm 1585 tại Guarda, Bồ Đào Nha 

Nhập giáo đoàn Jesus, Christo giáo năm 1605 tại Coimbra. Đến Macau từ 1613.

Đến truyền giáo ở Đàng Trong năm 1617, thông thạo nhiều thứ tiếng Đông Nam Á, nhất là tiếng Nhật và tiếng Việt.

Dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ Âu châu mới qua Á Đông, trong số có Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa và Alexandro Rhodes.

Phiên âm tiếng Việt theo mẫu tự Bồ Đào Nha và La tinh. Đắm thuyền chết tại cửa biển Đà Nẵng ngày 15-12-1625.

Gaspar do Amaral

Sinh năm 1594 tại Curveceira, Viseu, Bồ Đào Nha ngày nay. Nhập giáo đoàn Jesus, Christo-giáo, năm 1617 tại Coimbra, Bồ Đào Nha. Đi Á Đông năm 1624 ở Macau; Viện trưởng Viện Truyền đạo ở Macau. Đến Đàng Ngoài năm 1629. 

Trở về Macau năm 1638 sau khi hoàn thành phiên âm chữ quốc ngữ Việt Nam. Đắm thuyền, chết ngoài biển Macau tháng 2-1646 trên đường đi Việt Nam. 

Antonio Barbosa

Sinh năm 1594 tại Amifana do Souza nay là Penafiel gần Porto, Bồ Đào Nha. Nhập giáo đoàn Jesus, Christo giáo tại Lisboa năm 1624. Đi Á Đông đầu năm 1624.

Đến Đàng Trong 1629, rồi Đàng Ngoài năm 1636 cho đến 1642 đi Macau. Hợp tác với Gaspar do Amaral trong việc hoàn tất phiên âm chữ quốc ngữ.



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend