TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam: NGUYỄN MẠNH QUANG


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

<> QUỐC KỲ - QUỐC CA 

<> QUỐC KỲ VIỆT NAM

<> QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA  

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

 Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

 

 

 

Trân Chung Ngọc

 

Charlie Nguyễn 

Hoàng Linh Đỗ Mậu

 

Hoàng Nguyên Nhuận

 

  Nguyễn Mạnh Quang

 

 

 Giuse Phạm Hữu Tạo

 

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

 

Thân Hữu  

 

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

  

 

Trang Nối Kết

 

 

 

 

Websites trong nước

 

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

 

Websites hải ngoại

 

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu:

Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

"Das Kapital" trở thành loại sách gối đầu giường.
Luận điểm cơ bản của chủ thuyết kinh tế thị trường - "Hăy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lư do tại sao ngày càng có nhiều ư kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ...

 

 

Gần đây, trong giới nghiên cứu kinh tế học theo luận thuyết Karl Marx quyển “Das Kapital” (Tư bản luận) của ông đang trở thành sách gối đầu giường cho nhiều người phương Tây. Trong “Das Kapital”, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu họ. Và giới trùm tư bản sẽ phải đổ sụp dưới sức nặng của những mâu thuẫn nội tại. Có vẻ như điều này hoàn toàn đúng với những ǵ đă xảy ra với tập đoàn tài chính bị phá sản mới đây Lehman Brothers cũng như nhiều tập đoàn tài chính tư bản khác. Chẳng phải tự nhiên mà trong bài viết gần đây trên Washington Post, tác giả Anthony Faiola đă đặt câu hỏi rằng liệu có phải chủ nghĩa tư bản Mỹ đang đến hồi cáo chung hay không? click Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu: Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

hân

 

 

 

Tâm Thư Gửi Nhà Nước Việt Nam

Nguyễn Mạnh Quang

 

Nguyễn Mạnh Quang

Washington, U.S.A

Tacoma ngày 16/2/2009

Kính Gửi :

 

- Ông Chủ Tịch nhà nước Nguyễn Minh Triết

- Ông Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng

- Ông Tổng Bí Thư Nông Đức Mạnh

- Ông Chủ Tịch Quốc Hội Nguyễn Phú Trọng

  

Với tư cách là một người Việt Nam có nhiều năm nghiên cứu lịch sử chính trị của nước nhà trong giai đoạn cận đại, trân trọng gửi tâm thư này lên quư Ngài để nói lên mối ưu tư của cá nhân tôi và một số người nặng ḷng với đất nước về vấn nạn Giáo Hội La Mă mà hiện nay chính quyền và dân tộc ta đang phải đối phó.

Cũng như nhiều người Việt đă sinh sống ở Hoa Kỳ từ nhiều năm, cá nhân tôi luôn luôn hướng về quê hương và mong muốn cho nước nhà được ổn định và giầu mạnh tiến lên sánh vai cùng với các nước tiên tiến ở trên thế giới như Nhật Bản, Anh, Nga, Đức, Pháp, Trung Hoa, Hoa Kỳ, v.v… V́ lẽ này mà những tin vui như Việt Nam được bầu làm hội viên trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc trong nhiệm kỳ 2007-2009, được gia nhập Tổ Chức Thương Mại Quốc Tế, được ủy nhiệm tổ chức Hội Nghi OPEC, được giao phó cho tổ chức đại lễ VESAK 2008 ở Hà Nôi, và được ủy nhiệm tổ chức hoa hậu thế giới 2008 ở Nha Trang, tất cả đă làm cho chúng tôi vô cùng sung sướng và hết sức hănh diện.

Ngược lại, chúng tôi không khỏi bức xúc và âu lo khi được biết một số giáo sĩ xúi giục giáo dân cùng nhau "hiệp thông cầu nguyện" với các dụng cụ như xà beng, búa ḱm đập tường phá cổng xâm nhập bất hợp pháp vào công sở và cơ sở tư nhân để chiếm đất, cắm thập tự, và dựng ảnh tượng Bà Maria bừa băi ở khắp nơi.

Càng đe dọa hơn nữa khi các hàng giáo phẩm và giáo dân chỉ biết tuân lệnh Ṭa Thánh Vatican, mà lại khinh thường chính quyền Việt Nam và bất chấp luật pháp quốc gia. Những thái độ và hành động này được thể hiện trong những bài giảng trong nhà thờ, các bài viết đăng tải trên các mạng điện tử, và ngay cả trong các văn thư trao đổi với chính quyền.

Thưa quư Ngài,

Cũng v́ ḷng mong muốn cho nước nhà được ổn định và giầu mạnh, nên chúng tôi rất phẫn nộ khi thấy rằng Vatican, một mặt dồn nỗ lực vào việc vận động thiết lập bang giao với Việt Nam, mặt khác th́ họ lại sử dụng giới giáo sĩ và giáo dân người Việt (vốn đă xa rời truyền thống văn hóa cổ truyền, tự tách khỏi ḷng dân tộc) để chống phá chính quyền, và càng ngày càng trịch thượng. Tiêu biểu cho sự kiện này là thái độ của Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt, linh mục Vũ Khởi Phụng, và những giáo sĩ khác trong vụ nổi loạn ở Thái Hà đă biểu hiện trong năm qua (2008).

Tất cả những thủ đọan gian manh và hành động của họ khiến cho chúng tôi cảm thấy lo sợ cho Tổ Quốc ta lại một lần nữa bị Vatican đánh phá. Dă tâm của họ là làm cho đất nước ta trở thành bất ổn, rối loạn trong xă hội, để rồi lấy đó làm lư do vận động ngoại cườngcan thiệp bằng cách:

- hoặc là trực tiếp, dùng với giáo dân bản địa, nội ứng ngoại hợp, cướp chính quyền như họ đă làm hồi thế kỷ 19,

- hoặc là tạo sức ép khiến cho chính quyền ta phải nhượng bộ để họ có thể đưa người của họ lên nắm chính quyền, như họ đă làm giữa năm 1954 để đưa Ngô Đ́nh Diệm lên cầm quyền.

V́ bức xúc và ưu tư như vậy, chúng tôi cố gắng biên soạn tâm thư này đạo đạt lên quư Ngài với hy vọng đóng góp một phần nào trong việc t́m hiểu:

1.- Một số bài học kinh nghiệm về những thủ đoạn của Nhà Thờ Vatican về sách lược:

a.- Trèo cao lặn sâu vào các cấp lănh đạo chính quyền từ trung ương xuống tới địa phương, kể cả các phương tiện truyền thông.

b.- Đoàn ngũ hóa tín đồ địa phương rồi tổ chức họ thành những đạo quân thứ 5 và sử dụng họ gây bạo lọan, phá rối an ninh trật tự, lật đổ Nhà Nước để cướp chính quyền.

2.- Những kinh nghiệm về các phương cách giải trừ vấn nạn Nhà Thờ Vatican mà chính quyền và nhân dân Anh, Pháp, Ư, Tây Ban Nha, Nhật, Trung Hoa, Mỹ, Mễ Tây Cơ, Cuba, Nicaragua, Nga, Do Thái và rất nhiều quốc gia khác đă phải đương đầu đối phó.

Trận trọng kính mong quư Ngài cứu xét và phổ biến sâu rộng tài liệu tâm thư này để cho nhân dân ta cũng nh́n thấy rơ vấn nạn Vatican trầm trọng đến mức nào.

 

Trân trọng,

Nguyễn Mạnh Quang

 

NỘI DUNG

 

   

    Vào đề

    Phần I: Việt Nam phải dứt khoát không bang giao với Vatican

     Chương 1: Tổng quát về chủ trương và chính sách của Giáo Hội La Mă

     Chương 2: Việt Nam không nên thiết lập bang giao với Vatican.

    Phần II: Chủ trương thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại của Vatican

     Chương 3: Chủ trương thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại của Vatican

     Chương 4: Chủ Trương và kế họach của Vatican đánh chiếm Việt Nam

     Chương 5: Vatican nỗ lực thuyết phục Pháp cấu kết với Vatican đánh chiếm Việt Nam

     Chương 6: Những động lực hay lư do khiến cho người Việt Nam theo đạo Ca-tô

     Chương 7: Tín đồ Ca-tô bản địa được Vatican rèn luyện như thế nào?

     Chương 8: Hậu quả của chính sách đào tạo người của Vaticancan

     Chương 9: Địa vị và tội ác của giáo dân người Việt đối với tổ quốc và dân tộc.

     Chương 10: Sự khác nhau giữa giáo dân Âu Châu và giáo dân người Việt

    Phần III.- Kế sách trèo cao lặn sâu của Vatican vào giới lănh đạo nhà nước tại các quốc gia đối tượng.

    Chương 11.- Tổng lược về kế sách trèo cao lăn sâu của Vatican vào giới lănh đạo nhà nước tại các quốc gia đối tượng.

     Chương 12: Những hành động tham tàn và man rợ của Nhà Thờ Vatican an

     Chương 13: Ḷng căm phẫn của nhân dân thế giới đối với Nhà Thờ Vatican an

      Chương 14: Cuộc chiến chống Vatican của người Anh và kế sách trèo cao lặn sâu của Vatican vàio giai cấp lănh đạp nước Anh.

     Chương 15: Cuộc chiến chống Vatican của dân Pháp và kế sách trèo cao lặn sâu của Vatican vào giai cấp lănh đạo nước Pháp.áp.

     Chương 16: Kế sách trèo cao lặn sâu vào dùng tín đồ để gây bạo loạn chống lại tổ quốc và dân tộc Việt Nam

    Phần IV: Những phương cách chống lại của các quốc gia nạn nhân của Vatican

      Chương 17: Các nước Ư, Đức, Nga, Tiệp Khắc, Tây Ban Nha và Ba Lan chống Vatcan

      Chương 18: Các dân tộc Hoa Kỳ, Mễ Tây Cơ, CubaNicaragua chống Vatican

      Chương 19: Các dân tộc Nhật Bản, Trung Hoa và các dân tộc khác chống Vatican

     KẾT LUẬN

 

 

 

VÀO ĐỀ

 

Đọc lịch sử thế giới và lịch sử Giáo Hội La Mă, chúng ta thấy Giáo Hội La Mă quả thực là một tổ chức tội ác nắm trọn quyền lực chuyên chính về cả tôn giáo lẫn chính trị bao trùm gần kín lục địa Âu Châu và các vùng ven Biển Dịa Trung Hải trong suốt chiều dài lịch sử từ thế kỷ 4 cho đến cuối thế kỷ 18 và ở các thuộc địa của các đế quốc Bồ Đạo Nha, Tây Ban Nha, Pháp và Bỉ ở khắp năm châu bốn bể từ giữa thế kỷ 15 cho đến cuối thế kỷ 20. Tổ chức tội ác này đă sử dụng cả hàng rừng thủ đoạn siêu việt về lường gạt và bịp bợm, siêu viêt về thâm độc, siêu việt về gian tham và tàn ngược để duy tŕ và củng cố quyền lực.

Quyền lực sinh ra tội ác. Quyền lực càng nhiều và nắm quyền càng lâu th́ tội ác càng nặng và càng nhiều. Giáo Hội La Mă là một thế lực có quá nhiều quyền lực và lại nắm quyền trong một thời gian dài như vậy th́ tất nhiên tội ác của cái thế lực này phải thật là vô cùng ghê gớm. Có thể nói rằng tội ác chống lại nhân loại của Giáo Hôi La Mă gồm toàn những trọng tội trùng trùng vào cao chất ngất như hàng chục rặng núi Hy Mă Lạp Sơn. Giáo Hội La Mă ở vào trường hợp này và gồm những tội danh như sau:

1.- Sử dụng hệ thống tín lư Ki-tô để mê hoặc, phỉnh gạt, lừa bịp, hù dọa và khủng bố tinh thần người đời.

2.- Nhân vơ và mạo nhận là đại diện duy nhất của Thượng Đế ở trên thế gian này

3.- Ḱm hăm nạn nhân măi măi ở trong t́nh trạng ngu dốt bằng chính sách ngu dân và nhồi sọ để dễ bề sai khiến đúng theo sách lược “dân ngu dễ trị”.

4.- Biến tin đồ thành những hạng người mất hết nhân tính khiến cho họ không c̣n những t́nh cảm và t́nh yêu hồn nhiên và thiêng liêng đối với những người thân thương trong gia đ́nh và đối với tổ quốc qua lời dạy của ông Jesus trong Matthew (10:34-37), của Giáo Hoàng Paul IV (1559-1565) “Nếu bố tôi là dị giáo đồ tôi sẽ chụm củi đốt sông ông ta luôn” và của Giáo Hội.

5.- Lừa dối người đời, ăn gian nói dối, quay quắt, lắt léo, lươn lẹo, lật lọng, trở tráo, ăn không nói có, đổi trắng thay đen.

6.- Nêu gương sống đời dâm ô trụy lạc, loạn dâm, loạn luân, phi luân, bất nhân, bất tín và bất nghĩa.

7.- Cướp đoạt tài nguyền và cưỡng chiếm hữu bất động sản của các quốc gia nạn nhân.

8.- Áp bức và bóc lột các dân tộc nạn nhân vơ vét và tích lũy của cải cho đầy túi tham.

9.- Tra tấn và hành hạ các nạn nhân một cách cực kỳ man rợ.

10.- Độc ác và bạo ngược và đă tàn sát tới gần ba trăm (300) triệu nạn nhân.

Mỗi một tội danh trên đây là một rặng núi tội ác, gom lại thành 10 rặng núi tội ác, gọi chung là 10 rặng núi tội ác chống nhân loại.

Lẽ tất nhiên, tội ác chống lại nhân lọai càng nhiều th́ ḷng căm phẫn và thù ghét của nhân dân thế giới đối với Giáo Hội La Mă càng chất chứa và tích lũy trong ḷng mănh liệt và bốc lên đến tận trời xanh, và chỉ chờ có hội thuận tiện là biến thành con băo lửa thiêu rụi cả toàn bộ nền tảng tín lư Ki-tô và tất cả những thành tŕ bảo vệ khiến cho Giáo Hội không c̣n nơi nương tựa và cũng không c̣n có thế lực nào đứng ra che chở cho nữa. Và cuối cùng tự nó sẽ rơi vào t́nh trạng ră ngũ tan hàng giống y hệt như chính quyền bù nh́n và đao quân đánh thuê do Mỹ và Vatican dựng nên ở miền Nam Việt Nam đă tan ră vào những ngày chót của tháng 4 năm 1975.

Ṭa Thánh Vatican cũng biết như vậy. Cho nên trong hơn 10 năm gần cuối cuộc đời, Giáo Hoàng John Paul II đi đến bất kỳ quốc gia nạn nhân nào của Giáo Hội cũng xin lỗi lia lịa, tính ra có tới hơn 100 lần, rồi chính Ngài lại cho tổ chức một buổi đại lễ vô cùng trọng thể tại Quảng Trường Peter và buổi sáng ngày Chủ Nhật 12/3/2000 để chính Ngài và các vị chức sắc cao cấp trong giáo triều Vatican chính thức đứng ra cáo thú tội ác với Chúa và với nhân dân thế giới trước sự chứng kiến trực tiếp của hàng triệu khán thính giả tại Quảng Trường Peter và hàng trăm triệu khán thính giả khác qua các các màn ảnh truyền h́nh ở khắp mọi nơi trên thế giới.

Những tưởng rằng, với những hành động xin lỗi các quốc gia nạn nhân của Giáo Hoàng John Paul II và hành động cáo thú tội ác công khai với Chúa giữa thanh thiên bạch nhật của giáo triều Vatican trước hàng trăm triệu khán thính giả như vậy, th́ Vatican đă biết ăn năn hối lỗi và phục thiện, nhưng đáng buồn là “ngựa vẫn quen đường cũ” và Vatican vẫn chứng nào tật ấy.

Người Trung Hoa có câu nói “giang sơn dị cải, bản chất nan di”. Cái bản chất phỉnh gạt, lừa bip, xấc xược, ngược ngạo, tráo trở, lươn lẹo, thay h́nh đổi dạng khi th́ đóng vai hiền lành như con cừu, khi th́ qủy quyệt, tinh ma, lưu manh như một con cáo giả và khi th́ hung bạo, dă man như con cọp đói của Giáo Hội quả thật là bất trị, không thể nào sửa đổi được (nan di). Bằng chứng là từ nhiều năm nay chính quyền và nhân dân Việt Nam đă phải đối phó với Nhà Thờ Vatican về những thủ đoạn dùng các đạo quân thứ 5 để gây rối loạn chuẩn bị cho kế sách cướp đoạt chính quyền bằng những chiều bài đ̣i cướp lại những bất động sản (đă bị chính quyền quốc hữu hóa từ giữa thập niên 1950) là những khoản tài sản mà Vatican đă cưỡng chiếm của dân ta trong thời Liên Minh Xâm Lược Pháp – Vatican đánh chiếm và thống trị Việt Nam 1862-1945 và bằng nhiều quái chiêu khác. Bằng chứng rơ ràng nhất cho cái bản chất ghê tởm này của Nhà Thờ Vatican là thái độ, lời nói và hành động ngang ngược của họ trong thời gian vừa qua với những vụ:

1.- Việc Tổng Giám Mục Ngô Quang Kiệt xúi giục con chiên nổi loạn đánh phá ṭa nhà công quyền tại số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội trong thời gian từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008 với chiều bài đ̣i chiếm lại khu đất này cho Vatican.

2.- Việc ông tổng giám mục này cùng với các Linh-mục Vũ Khởi Phụng, Nguyễn Văn Khải, Nguyễn Ngọc Nam Phong, Nguyễn Văn Thật, Nguyễn Hữu Vinh xúi giục một số giáo dân cuồng tín gây bạo loạn phá tường tràn vào chiếm đóng Công ty may Chiến Thắng tại số 180 Đường Nguyễn Lương Bằng (Phương Đồn Đa, Hà Nội) từ ngày 18/8/2008 cho đến nay (30/8/2008).

3.- Thái độ và lời lẽ ngang ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam)trong văn thư số 10/GHVN đề ngày 25/9/2008 của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi Đồng Giám Mục Việt Nam) trả lời văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008 của ông Nguyễn Thế Thảo (chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội).

4.- Thái độ và lời lẽ ngang ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam)trong lá thư phúc đáp của Tỉnh Ḍng Cứu Thế Việt Nam đề ngày 19/12/2008 gửi ông Chủ Tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội.

5.- Vụ dựng tượng Bà Maria ở xă An Bằng (Huế) kéo dài từ đầu năm 2008 cho đến ngày nay (Tháng 1/2009).

Tất cả bằng chứng này cho thấy rơ là (1) các ông tu sĩ và giáo dân Ca-tô người Việt vẫn c̣n triền miên trong cơn mê mơ về nước Chúa mà cứ ngỡ rằng Việt Nam hiện nay là "Nước Cha trị đến" nằm dưới quyền thống trị của Nhà Thờ Vatican giống như ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 và họ vẫn tiếp tục đi sâu vào con đường tội ác chống lại dân tộc và tổ quốc Việt Nam, và (2) Nhà Thờ Vatican vẫn c̣n theo đuổi chính sách sử dụng tu sĩ và giáo dân người Việt trong mưu đồ đánh phá chính quyền và đất nước Việt Nam để đưa dân ta vào cái tṛng Ca-tô (Catholic loop) để siết cổ mà các dân tộc Âu Châu đă phải tốn không biết bao nhiêu công lao mồ hôi, nước mắt và xương máu của biết bao nhiêu thế hệ trong suốt chiều dài gần hai ngàn năm mới giải thoát được.

Với kinh nghiệm của một người theo đuổi ngành sử học, dạy môn sử tại các trường trung học ở Việt Nam cũng như ở Hoa Kỳ liên tục từ niên khóa 1964-1965 cho đến niên khóa 1996-1977 và đă t́m hiều lịch sử Vatican về những hành động lấn chiếm tiếm đoạt chính quyền ở các nước Âu Châu và nhiều nơi khác trên thế giới từ thời Trung Cổ cho đến ngày nay, chúng tôi cố gắng chọn lọc một số những đoạn văn trong bộ sách Lịch Sử và Hồ Sơ Tội Ác Của Giáo Hội La Mă (đang biên soạn gần xong) gom lại và sắp xếp thành tập sách nhỏ này với hy vọng giúp cho chính quyền Việt Nam hiện nay và nhân dân ta ở trong nước cũng như ở hải ngoại có thể:

a.- Nh́n thấy dă tâm của Vatican trong những thủ đoạn sử dụng tu sĩ và tín đồ Ca-tô người Việt để bạo loạn tạo cơ hội thuận tiện hầu nhẩy lên cướp chính quyền rồi thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô để thi hành chính sách Ki-tô hóa bằng bạo lực như (1) ở Âu Châu trong thời Trung Cổ, (2) ở Tây Ban Nha trong những năm 1936-1975 dưới quyền tên bạo chúa Francisco Franco (1892-1975), (3) ở Croatia trong những năm 1941-1945 dưới quyền tên bạo chúa Ante Pavelich, (4) ở miền Nam Việt Nam trong những năm 1954-1975 đưới quyền tên bạo chúa tam đại Việt gian Ngô Đ́nh Diệm và tên quân phiệt Ca-tô Nguyễn Văn Thiệu, và (5) ở Rwanda (Phi Châu) trong năm 1994.

b.- Rút được kinh nghiệm về những bài học sử dụng những biện pháp mạnh đối phó với Vatican để diệt trừ hậu họa.

Ôn cố để tri tân. Mong rằng tập tâm thư này sẽ được coi như là một phần đóng góp nhỏ mon của người viết bằng những bài học lịch sử về những thủ đoạn và những quái chiêu mà Vatican thường sử dụng để tiếm đoạt chính quyền và cũng là những bài học lịch sử về những biện pháp mạnh của các nước trên thế giới đối phó với Giáo Hội La Mă.

 

PHẦN I

THIẾT LẬP BANG GIAO VỚI VATICAN
LÀ MỘT TR̉ CHƠI VÔ CÙNG NGUY HIỂM

 

Sử gia Loraine Boettner đă nói về Nhà Thờ Vatican trong cuốn Roman Catholicism như sau:

Rome in the minority is a lamb (Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mă là con cừu).

Rome as an equal is a fox (khi ngang số, Giáo Hội La Mă La Mă là con cáo).

Rome in the majority is a tiger (khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mă là con cọp.)”[1]

Binh pháp của Tôn Tử có câu để đời "Tri kỷ tri bỉ, bách chiến bách thắng." Do đó, chuyện đối đâu với một kẻ thù vô cùng quỷ quyệt, hết sức thâm độc và cực kỳ tàn ngược như đế quốc Vatican, chúng ta cần phải biết rơ chân tướng cũng như những thủ đoan gian manh và sách lược lấn chiếm tiếm đọat quyền lực để thỏa măn tham vọng trong mưu đồ thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân loại của đế quốc này.

Phần I nói về những lư do mà Việt Nam không nên thiết lâp bang giao với Vatican và nếu thiết lập bang giao với Vatican th́ sẽ rất nguy hiểm cho tiền đồ của dân tộc. Phần này gồm có:

Chương 1: Tổng quát về chủ trường và chính sách của Giáo Hội La Mă (9)

Chương 2: Những lư do khiến cho Việt Nam không nên thiết lập bang giao với Vatican. (19)

CHƯƠNG 1

TỔNG QUÁT VỀ CHỦ TRƯƠNG VÀ CHÍNH SÁCH CỦA GIÁO HỘI LA MĂ

Câu nói "Nhà Thờ Là Mối Đại Họa Cho Nhân Loại" là một sự có thực trong lịch sử thế giới mà tất cả các nhà sử học nghiên cứu về chủ trương chính sách và hành động của Giáo Hội La Mă trong gần hai ngàn năm qua đều đă nh́n nhận như vậy. Vấn đề này đă làm cho người viết suy tư từ nhiều năm nay và cứ lẩn quẩn không biết làm thế nào để cho mọi người Việt Nam ư thức được đại thảm họa rồi theo gương các nước Anh, Pháp, Ư Mễ Tây Cơ và các quốc gia nạn nhân khác của Vatican đă làm hầu đối phó với con cáo già Vatican này để cho dân ta, nghĩa là dùng những biện pháp mạnh rồi xa lánh nó giống như người Âu Châu đă làm:

Giáo Hội Công Giáo Rôma La-tinh trong thời cực thịnh kinh bang tế thế, đội vương miện cho các hoàng đế, tung hoành dọc ngang, làm mưa làm gió, thâu tóm cả thiên hạ trong tay, tiền rừng bạc biển, đă không biết tự chế, không học bài học khiêm hạ rửa chân, tự cao tự đại, coi bàn dân thiên hạ như cỏ rác… hôm nay hối bất cập, lịch sử c̣n nằm trơ ra đó. Người Âu Châu khiếp sợ Giáo Hội tránh xa như tránh hủi! Người Á Châu có thành kiến ghép Giáo Hội vào ông Tây thực dân và chống thực dân! Người Mỹ Châu La-tinh đồng hóa Giáo Hội vào đại họa diệt chủng! Và người Trung Đông làm sao quên được 250 thánh chiến tàn bạo hăi hùng! v.v… .Trọng tội của Giáo Hội là Giáo Hội không phải là nguồn phúc lợi b́nh an dưới thế! Ngược lại, và riêng tại Việt Nam, Giáo Hội chống phá đạo hiếu, phế bỏ bàn thờ tổ tiên, chà đạp văn hiến dân tộc Đại Việt, gọi các tôn giáo bản địa là thờ Bụt Thần, Ma Quỷ… Giáo Hội chia hai dân tộc Việt Nam thành dân có đạo là dân riêng của Giáo Hội, và dân vô đạo là dân ngoai theo tà thần, tạo dựng thành kiến kỳ thị rất sâu đậm và thô bạo. Đức Hồng Y Hà Nội Phạm Đ́nh Tụng xác minh trọng tội này của Giáo Hội trong bài tham luận đọc tại Roma năm 1998, có Đức Giáo Hoàng đương kim ngồi dự thính.”[2]

Cũng nên biết không phải một sớm một chiều mà người Âu Châu mới thóat ra khỏi ác thống trị tham bạo của Nhà Thờ Vatican mà họ gọi là cái tṛng Ca-tô giáo (Catholic loop). Tiền nhân họ đă phải kiên tŕ liên tục tranh đấu từ thế hệ này qua thế hệ khác trong suốt thời gian gần hai ngàn năm bằng nhiều phương cách và phải trải qua những c̣n khó khăn, gian nan khổ cực gấp bội phần so với công cuộc tranh đấu của tiền nhân ta để thóat ra khỏi ách thống trị tham tàn của người Trung Hoa trước đây.

Thiết nghĩ rằng đất nước là của chung của tât cả toàn dân và tất cả mọi người chúng ta đều phải có trách nhiệm giữ ǵn và bảo vệ. Với khả năng của chúng tôi, chúng tôi chỉ có thể làm hết sức ḿnh trong việc sưu tầm tài liệu để biên sọan cuốn tâm thư này đạo đạt lên chính quyền Việt Nam hiện nay và cũng là để cho mọi người Việt Nam nh́n thấy rơ cái mối đại thảm họa này mà tất cả các quốc gia đă từng là nạn nhân của nó và đều phải quyết tâm tranh đấu cho đến cùng để giải thoát. Phần c̣n lại xin nhường cho nhân dân và đặc biệt là chính quyền Việt Nam hiện nay. Người viết thiết tha mong ước rằng tất cả mọi người trong chính quyền hiên nay và tất cả mọi người trong nhân dân ta hăy nghĩ đến tiền đồ của dân tộc để mà cố gắng hết sức và làm hết khả năng của mỗi người để góp phần vào đại cuộc tranh đấu đầy thử thách này để tranh cho đất nước cái đại thảm họa Nha Thờ Vatican mà ṭan thể nhân dân thế giới đều ghê tởm đều muốn “diệt tận gôc, trốc tận rẽ” nếu không thỉ cũng phái tránh xa như tránh hủi như đă nói ở trên.

Chúng tôi cũng biết rằng cái tựa đề của cuốn tâm thư này sẽ làm cho nhều tín đồ Thiên Chúa Giáo giận dữ và những người phi Ki-tô giáo cho là quá đáng NẾU họ không hiểu thấu đáo lịch sử thế giới và không hiểu những chủ trương, những chính sách và những việc làm tội ác của cái tôn giáo này trong gần hai ngàn năm qua. Để làm sáng tỏ vấn đề này, người viết xin nói sơ lược về những chủ trương, ch́nh sách, thủ đọan và việc làm mà Nhà Thờ (hay Vatican) đă gây ra không biết bao nhiêu thảm họa đau thương cho nhân lọai.

A.- Về chủ trương, Nhà Thờ Vatican luôn luôn có tham vọng thống trị toàn cầu và nô lệ hóa nhân lọai bằng bạo lực. Chủ trương bạo ngược này được sách sử ghi lại rơ ràng như sau:

"...., quyền lợi của Bồ Đào Nha đă được phân định rơ ràng trong sắc chỉ "Romanus Pontifex" do Đức (Giáo Hoàng) Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454. Theo quyền lực Chúa ban và quyền lực của Ṭa Thánh, Đức Giáo Hoàng ban cho triều đ́nh Lisbon (Bồ Đào Nha) "toàn quyền tự do xâm lăng, chinh phục, chiến đấu, đánh giặc và khuất phục tất cả các quân Sarrasins (tức người Ả Rập), các dân ngoại đạo và các kẻ thù khác của Giáo Hội, gặp bất cứ nơi nào: được toàn quyền chiếm cứ tất cả các vương quốc, lănh địa, vương hầu, đất đô hộ và tài sản của chúng; toàn quyền chiếm đoạt tất cả của nổi và của ch́m của chúng và bắt tất cả chúng nó làm nô lệ vĩnh viễn." [3]

B.- Về chính sách, trong suốt chiều dài lịch sử trong gần hai ngàn năm qua, Nhà Thờ Vatican đă thi hành những chính sách và thủ đoan cực kỳ thâm đôc, hết sức dă man, vô cùng quỷ quyệt và thâm độc đến cùng độ của thâm độc. Đó là các chính sách hay thủ đọan:

1.- Dùng cả hàng ngàn những chuyện hoàng đường láo khoét trong Thánh Kinh trong đó hai cái bánh vẽ thiên đường, hỏa ngục, rồi lại đặt ra hàng ngàn giáo luật và hằng hà sa số tín lư láo khoét để mê hoặc, dụ khị, hù dọa, cưỡng bách và chèn ép người đời phải theo đạo Ca-tô làm nô lệ cho Nhà Thờ. Vấn đề này đă được tŕnh bày đầy đủ trong Phần II và Phần IV trong cuốn sách Họ Và Chúng Ta của tác giả Nguyễn Mạnh Quang. Tập sách này đă được đưa lên sachhiem.net vào ngày đầu năm 2009.

2.- Thi hành chính sách bất khoan dung đối với các thành phần thuộc các tôn giáo và nền văn hóa khác bằng những hành động cực kỳ tàn ngược, tàn sát hay cưỡng bách làm nô lệ tất cả những người ngoại đạo không chịu theo đạo Ca-tô, và hủy diệt tất cả những di sản văn hóa cùng những công tŕnh kiến trúc của các dân tộc mà nhà Thờ gọi là ngoại đạo.

3.- Thi hành chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ để ḱm hăm tín đồ và nhân dân dưới quyền măi măi ở trong t́nh trạng ngu dốt, không biết sử dụng lư trí để t́m hiểu sự vật. Có ở t́nh trạng ngu dốt như vậy, th́ họ mới không có khả năng thông minh để nh́n ra tính các hoang đường láo khoét và bịp bợp trong Thánh Kinh. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam T́nh ghi nhận như sau:

"Ngọai trừ các cụm nhà thành thị dân chúng sống lẫn lộn, người Công Giáo thường được tập trung lại thành làng xóm riêng, tách rời khỏi người lương, sống chen chúc quanh tháp nhà thờ xây theo kiểu Tây, chọc lên trời, cao vượt khỏi lũy tre. Bị đóng khung và được đ̣an ngũ hóa bởi hàng giáo sĩ, họ trở thành một lực lượng quần chúng, một lực lượng đáng ghê sợ khi cha xứ kêu gọi họ đứng lên bảo vệ đức tin, bảo vệ nhà thờ. Hệ thống ốc đảo đó tách biệt và cô lập phần lớn giáo dân khỏi liên hệ với đồng bào, thúc đẩy họ từ khước, tẩy chay bất cứ điều ǵ không được Giáo Hội chính thức phê chuẩn, chẳng hạn sách Truyện Kiều, một kiệt tác văn thơ cổ điển của Việt Nam, hoặc các tài liệu cách mạng đều bị cho là ngược với đạo. Cac sách của Voltaire, Montesquieu, khỏi nói tới Các Mac, vừa bị nhà nước thuộc địa cấm, vừa bị giáo luật khai trừ, nhưng ngay cuốn sách thánh đă dịch ra tiếng bản xứ mà cũng chẳng ai được biết đến (có một bản sách thánh in bằng hai thứ tiếng La Tinh và Việt ngữ, khổ lớn, nằm trong thư viện các chủng viện và một vài cha xứ, c̣n giáo dân th́ không thể rờ tới.)"[4]

Cũng nói về chính sách ngu dân của Giáo Hội La Mă, sử gia Loraine Boettner ghi nhận:

“Giáo dân phải vâng lời và phải ủng hộ vị tu sĩ quản nhiệm họ đạo và Giáo Hội bằng dịch vụ và bằng tiền bạc. Họ được rèn luyện cho cứu cánh này ngay từ thuở c̣n thơ ấu. Quyền hành của tu sĩ quản nhiệm họ đạo bao trùm cả đến những việc riêng tư trong gia đ́nh của giáo dân mà không ai có quyền thắc mắc. Mọi sinh hoạt dân chủ đều bị ngăn cản. Các tổ chức họat động thế tục (ngoài đời) không những bị giới hạn và c̣n bị Giáo Hội gia cản trở. Trong khi đó những tổ chức tương tự như vậy do tu sĩ bảo trợ th́ vẫn họat động trong họ đạo.” [5]

4.- Dùng thủ đọan phỉnh nịnh, khơi động và nuôi dưỡng ḷng tham lam ích kỷ của con người, rồi dùng miếng mồi vất chất, danh lợi và bánh vẽ (những lời hứa hăo huyền) để câu nhử những phường tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực chạy theo bắt mồi mà theo đạo để rồi lợi dụng và khai thác họ. Bản văn sử dưới đây cho chúng ta thấy rơ sự thật này.

"Giáo Hoàng kêu gọi phát động cuộc chiến thập tự. Giáo Hoàng Urban II (1088-1099) hăng say phát động cuộc chiến thập tự để thâu hồi lại Đất Thánh. Năm 1095, ông trịệu tập một đại hội gồm các tu sĩ chức sắc và các nhà quư tộc Pháp nhóm họp tại Clemont, Pháp. Ông thúc dục các nhà quư tộc có quyền thế hăy ngừng đánh phá lẫn nhau để tham gia vào một cuộc chiến lớn chống lại những người tà giáo (những người thuộc các tôn giáo khác.)

Người ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập Ác này v́ nhiều lư do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa lên thiên đường vừa được hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đ́nh của họ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những ai c̣n mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị trừng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt v́ những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia th́ thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc chiến tranh khích động ḷng yêu thích phiêu lưu của con người, ḷng hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán." [6]

5.- Cấu kết chặt chẽ với các cường quyền và các đế quốc thực dân xâm lược để củng cố quyền lực và bàp trướng thế lực ra tất cả các thuộc địa của các đế quốc thực dân Âu Mỹ. Đây là chính sách cố hữu của Nhà Thờ Vatican và đă được sách sử ghi lại đầy đủ như sau:

"Bản nghiên cứu về tiêu chuẩn lịch sử cho thấy rằng Giáo Hội La Mă đă sử dụng một sách lược hành động trong nhiều thế kỷ là đồng hóa (liên kết) các mục tiêu tôn giáo của Giáo Hội với mục tiêu của một cường quốc thế tục đương thời. Như chúng ta đă thấy, Giáo Hội đă sử dụng sách lược này ở Á Châu vào những thời kỳ Bồ Đào Nha, Tây Ban và Pháp đang là những đại cường đang lên.

Ở Âu Châu, sách lược trên đây cũng được áp dụng nhiều lần trong thế kỷ 20 này. Có lúc, Giáo Hội đă liên kết với nước Pháp, liên kết với Đế Quốc Gia-tô Áo - Hung trong thời Đệ Nhất Thế Chiến, rồi trước và trong thời Đệ Nhị Thế Chiến th́ Giáo Hội lại liên kết với các chế độ độc tài Ư và Đức của phe hữu. Bằng cách đồng hóa với các cường quốc trên đây vào thời đang lên về các quyền lợi kinh tế, chính trị và chiến tranh, Giáo Hội đă thâu tóm được rất nhiều quyền lợi.

V́ rằng không c̣n một siêu cường Da-tô nào kể từ khi Đệ Nhị Thế Chiến chấm dứt mang theo sự hủy diệt của chế độ phát xít ở Âu Châu, Giáo Hội La Mă quay ra chọn Hoa Kỳ để liên kết thành một liên minh chính trị. Đây là hành động để đối phó với sự bành trướng của nghĩa Cộng Sản Bôn-sê-vích và siêu cường Nga Sô sau thời Đệ Nhị Thế Chiến. T́nh trạng này khiến cho cả Giáo Hội La Mă lẫn Hoa Kỳ cùng lo sợ và bắt buộc hai thế lực này liên kết với nhau thành một liên minh thực sự trong thời Chiến Tranh Lạnh.” [7]

Sự kiện này cũng được học giả Charlie Nguyễn nói rơ trong Mục B ở trên. Xin ghi lại đây đọan văn ngắn ngủi này để độc giả không c̣n nghi ngờ về sự kiện lịch sử này:

"Vatican trước đây đă đạt tới đỉnh cao danh vọng do sự cấu kết chặt chẽ với các chủ nghĩa quân chủ phong kiến, chủ nghĩa thực dân đế quốc, chủ nghĩa phát -xít (Ư) và chủ nghĩa Đức Quốc Xă. Nó cấu kết với các bố già Mafia Ư và bọn khủng bố quốc tế.”[8]

6.- Kiểm soát và khống chế tất cả mọi phạm vi sinh họat trong các xă hội (đă bị nằm dưới quyền thống trị của Nhà Thờ) khiến cho người dân trở thành vô sản và Nhà Thờ trở thành một thứ bạo chúa chủ nhân của đât nước. Bản văn sử dưới đây cho chúng thấy rơ sự kiện này:

Về các vấn đề tôn giáo, trước khi Kitô giáo ra đời, các tôn giáo trên thế giới đều có đặc tính khoan dung. Một trong những thông điệp của Delphic Oracle là “Mọi người đều đúng cả. Chẳng có ai quấy.” Nguyên tắc của người La Mă thời bấy giờ là “Tôn giáo ở trong vùng (nơi bạn cư ngụ) là tôn giáo của bạn.” Trong tâm trí và trong cách ứng xử của người đời thời bấy giờ là không có sự liên hệ ǵ giữa tôn giáo và chân lư. Tôn giáo không được coi như là một sự vật có thật. V́ thế cho nên, trước khi có đạo Kitô, không có chiến tranh tôn giáo, không có chuyện bách hại tôn giáo, và cũng không có người nào gọi là tử đạo cho niềm tin tôn giáo của họ cả. Lúc bấy giờ, không có ai cố gắng áp đặt tôn giáo hay cưỡng bách bắt buộc người khác phải theo tôn giáo của ḿnh. Chỉ có những người Kitô giáo mới sản xuất ra chiến tranh tôn giáo, gây nên những vụ bách hại tôn giáo và tạo nên những người tử đạo.

Ngay từ lúc đầu, người Kitô giáo khăng khăng cho rằng tôn giáo của họ là chân lư, rằng tôn giáo của họ nói về thực tế. Họ đưa ra lập luận rằng tôn giáo của họ là một chân lư toàn cầu, rằng chỉ có Kitô giáo mới là tôn giáo đích thực. V́ thế cho nên mọi hệ thống triết lư khác và mọi hệ thống kiến thức khác - bất kỳ ngành họat động nào của con người có liên hệ với chân lư – đều phải hài ḥa với tôn giáo đích thực là Kitô giáo. Trái lại, đó chỉ là một hệ thống triết lư giả, một kiến thức giả. Tất nhiên là mọi tính cách đạo đức đều từ Kitô giáo mà ra.. Kitô giáo thấm nhập vào tất cả mọi lănh vực trong đời sống thế tục từ kinh tế, chính trị, tài chánh, nghệ thuật, giáo dục cho đến các cơ cấu khác trong xă hội. Tôn giáo và chính trị, tôn giáo và tài sản, tôn giáo và chính quyền, tôn giáo và nghệ thuật, tôn giáo và sự học hỏi – giữa những liên hệ cơ cấu này, không có sự chống đối nào mà không ḥa giải được. Những cơ cấu này không thể tách rời được và cũng không thể giữ nó ở trong t́nh trạng tách rời nhau.. Các vấn đề như quân sự chính trị, tài sản, nghệ thuật và chính quyền, tất cả đều phải bị tôn giáo thống trị tuốt luốt.

(“In religious matters, the pre-Christian world was ecumenical tolerant. “Everybody is right. Nobody is wrong,” was one message of the Delphic Oracle, “Whatever be the region of the earth where you find yourself,” went the Roman principle, “that region’s religion is your religion.” In men‘s minds and in the way they conducted their affairs, there was no connection between religion and truth. Religion was not considered a true thing. Hence, prior Christianity, there was no religious wars and no religious persecutions. There was no religious martyrs for their faith. No one tried to impose religion as such on anyone else. Only Christians produced such wars, persecutions and martyrs.

From their beginnings, Christians insisted that their religion was true, that it did speak about reality. They drew the logical conclusion from that: that it was universally true. That there could be only one true religion. Theirs. Hence all philosophy and all knowledge - any branch of human activity that dealt with the truth – had to be, would be reconcilable with the true religion, Christianity. Otherwise, it was a false philosophy, a false knowledge. Automatically, an all embracing morality from this Christianity. It permeated al aspects of temporal life:economics, politics, finance, the arts, education, social structures. Religion and politics, religion and wealth, religion and government, religion and art, religion and learning – between these there was no irrececoncilable opposition. They were not separate or to be kept separate. Military matters, matters of politics, wealth, art, government – all became dominated by religion.” [9]

Bản văn sử trên đây cho chúng ta thấy rơ Nhà Thờ quả thật đă trở thành một thứ bạo chúa nắm quyền chủ tến của đất nước và kiểm sóat chặt chẽ tất cả mọi phạm vi sinh họat của người dân trong nước giống như những ông bạo chúa áo đen quản nhiệm một họ đạo hay xóm đạo hoặc làng đạo mà nhà văn Ca-tô Nguyễn Ngọc Ngạn đă nói rơ ở nơi trang 148 trong cuốn Xóm Đạo (Đông Kinh, Nhật Bản: Tân Văn, 2003) và Linh-mục Trần Tam Tỉnh cũng nói rơ ở nơi trang 54 và trang 104 trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris: Nhà Xuất Bản Trẻ, 1978).

Trên đây là nói tóm lược về chủ trương cũng những thủ đọan và chính sách cực kỳ tham tàn, hết sức độc ác và vô cùng dă man của Nhà Thờ Vatican hay Giáo Hội La Mă đă có từ ngàn xưa. Cho đến ngày nay, Nhà Thờ Vatican vẫn theo đuổi chủ trương ngược ngạo và thi hành những thủ đọan cũng như chính sách dă man này và càng về sau càng được thi hành ở mức độ quỷ quyệt hơn và tinh vi hơn. Mấy vụ Giám-mục Ngô Quang Kiệt xúi giục giáo dân tụ tập gây bạo lọan tại ṭa nhà công sở số 142 Phố Khâm Thiên, Hà Nội trong những ngày từ 18/12/2007 cho đến ngày 30/1/2008, cũng như tại Công Ty May Chiến Thắng số 178 Đường Nguyễn Lương Bằng từ ngày 15/8 đến ngày 22/9/2008 và vụ dựng tượng Bà Maria ở xă An Bằng (Huế) hiên nay là bằng chứng rơ ràng nhất cho sự thật này.

CHƯƠNG 2

NHỮNG LƯ DO KHIẾN CHO VIỆT NAM
KHÔNG NÊN THIẾT LẬP BANG GIAO VỚI VATICAN

Trong chương này, chúng tôi xin tŕnh bày những lư do TẠI SAO mà chúng tôi thiết tha thỉnh cầu chính quyền Việt Nam cương quyết giữ vững lập trường KHÔNG đặt quan hệ ngọai giao với Ṭa Thánh Vatican. Dưới đây là những lư do này:

1.- Vatican là một quốc gia nhỏ bé cả về lănh thổ (chỉ có 400,000 mét vuông hay 0. 4 cây số vuông) và về dân số chỉ có khoảng 900 người (vào năm 1995).

2.- Vatican theo chế độ quân chủ tăng lữ chuyên chế (Sacerdotal monarchy) toàn trị. Đây là một chế độ hết sức phi nhân, cực kỳ độc ác, vô cùng gian xảo, và quỷ quyệt nhất, lạc hậu nhất, phản tiến hóa, phản dân chủ, phản nhân quyền nhất trong các chế độ chính trị trong lịch sử.

Trong khi loài người đă tiến đến tŕnh độ văn minh với những tiến bộ về khoa học và kỹ thuật được thể hiện ra bằng những thành quả phi thường trong các lănh vực chính trị, khoa học, kỹ thuật, tôn trọng nhân quyền và tự do tín ngưỡng, TH̀ Vatican vẫn c̣n theo đuổi chủ trương “tôn giáo chỉ đạo chính quyền”, vẫn duy tŕ thể chế tăng lữ quân chủ chuyến chế trung ương tập quyền toàn trị, một chế độ chính trị cực kỳ lạc hậu với những thủ đoạn vô cùng quỷ quyệt trong dă tâm dùng những tín lư Kitô hết sức hoang đường đề mê hoặc và lừa bịp người đời, lợi dụng t́nh yêu lứa đôi đi đến hôn nhân và dùng bạo lực nhà nước để cưỡng bách nhân dân dưới quyền phải theo đạo, dùng chính sách ngu dân và nhồi sọ để ḱm hăm nhân dân dưới quyền măi măi ở trong t́nh trạng ngu dốt theo đúng kế sách “dân ngu dễ trị và dễ lừa gạt”.

Nhờ vào những thủ đoạn và hành động gian manh và dă man này, Vatican mới có thể tiếp tục theo đuổi cái nghề buôn bán tín lư hoang đường theo kiểu “cưới vợ cho Hà Bá” với những tṛ ảo thuật “bí tích”, “phép la”, “phép mầu” và mới có thể tồn tại cho đến ngày nay.

3.- Vatican không gia nhập tổ chức Liên Hiệp Quốc. Với thực trạng này, Vatican hoàn toàn không có tiếng nói trong tổ chức quốc tế này. Như vậy, về vấn đề vận động dư luận quốc tế, Vatican ḥan ṭan không có ảnh hường tốt hay xấu đến Việt Nam.

4.- Vatican hoàn toàn không có một chút uy tín ǵ về chính trị. Không những thế, Vatican c̣n bị nhân dân thế giới khinh rẻ, ghê tởm và lên án nặng nề v́ đă gây ra hàng chục rặng núi tội ác chống lại nhân loại trong gần hai ngàn năm qua. Đă được nói rơ trong phần Dẫn Nhập ở trên.

5.- Vatican không có môt chút ǵ về khả năng quân sự. Trái lại nó chỉ dùng sách lược đoàn ngũ hóa tín đồ bản địa và tổ chức thành những đạo quân thứ 5 nằm vùng trong ḷng dân tộc thu thập các tin tức t́nh báo chiến lược rồi báo cáo về cho Vatican. Sau đó, Vatican sẽ phân tích những bản báo cáo này rồi tùy theo theo hoàn cảnh địa phương, tùy theo khả năng của các đạo quân thứ 5 này sẽ đi vận động các đế quốc xâm lược liên kết với Vatican xuất quân đánh chiếm Việt Nam làm thuộc địa để cùng thống trị và cùng nô lệ hóa dân ta như họ đă làm trong thế kỷ 19.

6.- Vatican không có sức mạnh và tiềm năng về kinh tế cũng như thương mại. Vatican không có một khả năng nào trong lănh vực này để trao đổi với Việt Nam. Trong trường hợp NẾU Vatican có viện trợ tài chánh cho Việt Nam để thực hiện một dự án nào đó, TH̀ đây chỉ là một sách lược “thả con xăn xắt bắt con cá rô” mà thôi.

7.- Vatican không có giá trị ǵ về văn hóa và văn minh và hầu như toàn thể nhân dân thế giới đều ghê tởm. Lư do v́ nền văn hóa này là:

a.- Một nền văn hóa lừa bịp theo kiểu “Cưới Vợ Cho Hà Bá”, huênh hoang kkoác lác, tự phong là đại diện duy nhất của Thượng Đế ở trong cơi trần gian, nhận vơ là được toàn quyền làm chủ địa cầu và quản trị loài người,

b.- Một nền văn hóa vô cùng bạo ngược với chủ trương diệt tận gốc trốc tận rễ tất cả các nền văn hóa và văn minh không phải là Ki-tô giáo,

c.- Một nền văn hóa phi luân [Matthew (10: 34-37)], loạn luân [Sáng Thế Kư (19:30-38)], vong bản, phản dân tộc, chỉ đào tạo nên những hạng người “Thà mất nước, chứ không thà mất chúa”, chỉ biết “Tuyệt đối tin tưởng vào Ṭa Thánh Vatican” và “triệt để tuân hành lệnh truyền của các đấng bề trên” trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mă.

d.- Một nền văn hóa nuôi dưỡng hận thù và trả thù một cách cực kỳ man rợ (sẽ được nói rơ nơi Chương 12, Phần II ở dưới). Nền văn hóa này ḥan toàn trái ngược với nền văn hóa cổ truyền của dân tộc Việt Nam với truyền thống khoan dung tha thứ đúng theo triết lư “lấy ân trả óan” của nhà Phật và “dĩ trực báo oán” của Nho giáo Giáo.

e.- Một nền văn hóa thượng tôn giáo luật, đặt giáo luật lên trên pháp luật quốc gia, đặt quyền lợi của Vatican lên trên quyền lợi của đất nước, phải đem nước Việt Nam dâng hiến cho Giáo Hội La Mă qua những hành động được tàng h́nh bằng những chiêu bài “dâng cao cờ vàng ba sọc đỏ”, “giữ vững lằn ranh Quốc –Cộng”, đ̣i hỏi Tổ Quốc chúng ta phải "ăn năn”.

Những chiến dịch này nhằm mục đích phủ nhận công lao ông cha chúng ta đă lên tục chiến đấu đánh đuổi Liên Minh Xâm Lược để giành lại chủ quyền độc lập cho dân tộc và đ̣i lại miền Nam để đem giang sơn về một mối. Thái độ và lời lẽ ngang ngược (coi giáo luật đứng trên luật pháp Việt Nam) trong văn thư số 10/GHVN đề ngày 25/9/2008 của Tổng Giám Mục Nguyễn Văn Nhơn (chủ tịch Hồi Đồng Giám Mục Việt Nam) trả lời văn thư số 1437/UBND-NC ngày 23/9/2008 của ông Nguyễn Thế Thảo (chủ tịch Ủy Ban Nhân Dân Thành Phố Hà Nội và trong Thư phúc đáp của Tỉnh Ḍng Cứu Thế Việt Nam đề ngày 19/12/2008 gửi ông Chủ Tịch UBND TP Hà Nội là bằng chứng rơ ràng nhất nói lên sự lời khẳng định cho sự thật này.

8.- Chủ trương bất di bất dịch của Vatican là theo đuổi sách lược sử dụng giới tu sĩ và tín đồ bản địa để đánh phá và cướp chính quyền, thiết lập chế độ đạo phiệt Ca-tô làm tay sai rồi tiến hành kế hoạch Ki-tô hóa bằng bạo lực. Trên chiến lược  này, Vatican hủy diệt tận gốc rễ tất cả các di sản văn hóa và công tŕnh kiến trúc của các tôn giáo và nền văn hóa khác. Chủ trương này đă được thể hiện một các trắng trợn qua lời tuyên bố của các vị chức sắc cao cấp trong Giáo Hội hay bằng những quyết định, thánh lệnh hay sắc chỉ.

Rơ ràng nhất là (1) lời tuyên bố của Giáo Hoàng Leo I (440-461) vào năm 451, rằng “Quyền hành của giáo hoàng phải bao trùm lên tất cả quyền hành của các nhà cầm quyền thế tục”, (2) bản tuyên cáo "Dictatus papae" được ban hành trong thời Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085), và các thánh chỉ hay sắc chỉ đợợc ban hành trong thế kỷ 15 trong đó có Sắc Chỉ Romanus Pontifex ban hành vào ngày 8/1/1454 trong thời Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455). Những sự kiện này đều được sách sử ghi lại rơ ràng và đầy đủ. Sách Roman Catholicism viết:

Khi đặt cái mũ ba tầng đặt lên đầu vị tân giáo hoàng, vị hồng y điều khiển buổi lễ tấn phong đọc lời tuyên bố dưới đây:

Tiếp nhận cái vương miện ba tầng này có nghĩa là Ngài biết rằng Ngài là Cha của các vua chúa, là Chúa tể của thế giới và là người đại diện của Chúa Jesus Cứu Thế…” (Sách Da-tô Niên Giám Quốc Gia)

Sách Giáo Lư Vấn Đáp của Địa Phận New York viết:

“Giáo hoàng giữ vai tṛ đại diện của Chúa Jesus Ki-tô ở trên trái đất. Do cái thần quyền này, giáo hoàng có đầy đủ quyền lực tối cao về tín ngưỡng và đạo đức bao trùm lên tất cả các linh mục và tất cả tín đồ Da-tô. Ông thực sự là người đại diện của Chúa Ki-tô, là vị lănh đạo của Giáo Hội, là cha, là thày của tất cả tín đồ Ca-tô và là cha của tất cả mọi người. Ông là nhà lănh đạo không lầm lẫn, là người có quyền đặt ra các tín điều, có quyền triệu tập các hội đồng giáo sĩ và có quyền phán xét trong các hội đồng này; ông cũng là vị chúa tể của toàn cầu, là trọng tài trên thế giới, là vị phán quan tối cao ở cả thiên đường và ở nơi dương thế, ông có quyền phán xét tất cả mọi người và không ai có quyền phán xét ông. Ông chính là Chúa ở trên trái đất này.”

Trong sắc lệnh “The Reunion of Christendom”, Giáo Hoàng Leo XIII (1878-1903) tuyên bố rằng “giáo hoàng là Chúa Toàn Năng ở trên trái đất này.”

Như vậy, Giáo Hội La Mă tự cho rằng giáo hoàng là đại diện của Chúa Ki-tô, là chúa tể ở thế gian này, quyền hành của ông ta không phải chỉ giới hạn trong Giáo Hội La Mă mà c̣n bao trùm lên trên tất cả các vua chúa, tổng thống, các nhà cầm quyền thế tục, và tất cả các dân tộc trong tất cả các quốc gia ở trên thế giới. Sự thật đă xẩy ra là các giáo hoàng đă hành xử quyền lực này ở trong các quốc gia mà quyền lực của Giáo Hội đủ mạnh. Các giáo hoàng đă từng rút phép thông công, truất phế các vua chúa và các thống đốc (phó vương) như trường hợp Nữ Hoàng Elizabeth I (1558-1603) của nước Anh và trường hợp Hoàng Đế Henry IV (1056-1106) của nước Đức, các giáo hoàng cũng đă từng mưu đồ xúi giục nhân dân nổi loạn chống lại các chính quyền không triệt để tuân hành lệnh truyền của Vatican bằng cách tuyên bố rằng tín đồ Ca-tô không có nghĩa vụ phải trung thành với các chính quyền này. Tuy nhiên, ở Hoa Kỳ, các giáo hoàng không thể hành xử như vậy được v́ rằng Giáo Hội không có quyền hành ở nước Mỹ và v́ Hiến Pháp Hoa Kỳ được coi như là tấm khiên chống lại mọi sự can thiệp từ bên ngoài.

Cho đến ngày nay, giáo hoàng vẫn c̣n sử dụng danh nghĩa “nhân danh Chúa” để đ̣i hỏi tất cả các dân tộc trên thế giới phải tuân phục ông ta. Nhiều khi sự tuân phục này diễn ra dưới một h́nh thức đặc biệt hết sức đê tiện, ngay cả các hồng y là những chức sắc cao cấp chỉ thua giáo hoàng có một bậc mà cũng phải quỳ gối phủ phục gục mặt xuống trước chỗ ông ta ngồi để hôn bàn chân của ông ta! Cho đến ngày nay, các giáo hoàng cũng vẫn c̣n xưng là đại diện Thượng Đế và khăng khăng đ̣i mọi người phải gọi ông ta là “Đức Thánh Cha”, chứ không đuợc gọi tên ông ta.”  [10]

Cũng trong tác phẩm này, trong một trang sách khác, tác giả Loraine Boettner viết:

“Khi là thiểu số, Giáo Hội La Mă là con cừu. Khi ngang số, Giáo Hội La Mă La Mă là con cáo. Khi chiếm đa số, Giáo Hội La Mă là con cọp”. [“Rome in the minority is a lamb. Rome as an equal is a fox. Rome in the majority is a tiger.”] [11]

Chính v́ lẽ này mà Tổng Thống Hoa Kỳ Abraham Lincoln mới tuyên bố:

"Cuộc nội chiến này sẽ chẳng bao giờ xẩy ra nếu không có ảnh hưởng ác độc của Ḍng Tên. V́ chính sách (xâm thực) của Giáo Hội La Mă mà giang sơn chúng ta đă nhuộm đầy máu của chính những người con cao quư nhất của chúng ta. Dù rằng giữa miền Nam và miền Bắc có nhiều khác biệt lớn lao về vấn đề nô lệ, nhưng cả Tổng Thống Jeff Davis (của miền Nam) cũng như tất những nhân vật lănh đạo khác trong chính quyền miền Nam, không có ai dám nghĩ đến việc tấn công miền Bắc nếu họ không trông cậy vào những lời hứa hẹn của Ḍng Tên rằng nếu miền Nam tấn công miền Bắc th́ Giáo Hội La Mă, và ngay cả nước Pháp nữa, sẽ gửi tiền bạc và vũ khí đến tiếp viện cho họ. Khi nhân dân Hoa Kỳ nhận thức được rằng chính các ông giám mục và tất cả các tu sĩ khác của Giáo Hội La Mă ở Hoa Kỳ phải chịu trách nhiệm về cuộc chiến đẫm máu và đầy nước mắt này, tôi cảm thấy thương xót cho họ. Từ sự hiểu biết t́nh h́nh của đất nước, tôi phải giấu kín những ǵ tôi biết về vấn đề này; v́ rằng NẾU nhân dân Hoa Kỳ biết hết sự thật (về chuyện này) cuộc chiến sẽ biến thành cuộc chiến tranh tôn giáo, sẽ trở nên tàn khốc với tất cả đặc tính của một cuộc chiến tranh tôn giáo và máu của người dân Hoa Kỳ sẽ đổ ra gấp mười lần. Ở vào trường hợp này, cả miền Nam lẫn miền Bắc đều trở nên vô cùng tàn nhẫn để tận diệt lẫn nhau. Khi đó, những tín hữu Tin Lành ở cả miền Bắc lẫn miền Nam sẽ cùng nhau đoàn kết để tận diệt hết các ông tu sĩ Ḍng Tên và các tu sĩ khác của Giáo Hội La Mă nếu họ nghe được những ǵ Giáo-sư Morse đă nói với tôi về những âm mưu được hoạch định ngay tại La Mă để tiêu hủy chế độ Cộng Ḥa Hoa Kỳ của chúng ta, và NẾU họ biết được rằng các ông tu sĩ và các bà phước của Giáo Hội La Mă hàng ngày nhập cảnh vào Hoa Kỳ những người với bề ngoài là truyền đạo, dạy học và săn sóc những người ốm đau, mà thực chất chỉ là những tên gián điệp của Giáo Hoàng, của Napoleon (Đệ III của nước Pháp) và của những tên bạo chúa khác ở Âu châu đến đây để phá hoại những cơ cấu chính quyền của chúng ta, làm cho nhân dân ta mất thiện cảm với hiến pháp và luật lệ của chúng ta, để phá hoại các trường học của chúng ta. Mục đích của họ là làm cho đất nước chúng ta trở thành hỗn loạn, một t́nh trạng vô chính phủ như họ đă làm ở Ái Nhĩ Lan, ở Mễ Tây Cơ, ở Tây Ban Nha, và ở bất kỳ nơi nào mà nhân dân ở đó muốn được sống đời tự do."

"Tổng Thống Abraham Lincoln nói tiếp: "Có phải là một sự vô lư hay không, nếu đem cho một người một cái ǵ mà chính họ đă thề thù ghét, nguyền rủa và hủy diệt? Và vào bất kỳ khi nào có thể làm được một cách an toàn, Giáo Hội La Mă có thù ghét, nguyền rủa và hủy diệt tự do lương tâm hay không? Tôi là người đứng về phía tự do của lương tâm theo ư nghĩa cao thượng nhất, rộng răi nhất và cao cả nhất. Nhưng tôi không thể nào lại trao tự do lương tâm cho Giáo Hoàng và những người tín đồ của ông ta khi mà qua các công đồng của họ, qua các nhà thần học của họ và qua luật thánh của họ, tôi vẫn c̣n nghe thấy tiếng nói lương tâm của họ ra lệnh cho họ phải thiêu đốt và bóp cổ vợ con tôi cho đến chết, và cắt cổ tôi khi mà họ có cơ hội!. Nhân dân ta ngày nay h́nh như chưa hiểu được điều này. Nhưng rồi sớm hay muộn, ánh sáng của công lư sẽ làm sáng tỏ điều này, và khi đó tất cả mọi người sẽ hiểu rằng không thể nào trao tự do lương tâm cho những người đă thề phải tuân phục một ông Giáo Hoàng tự phong cho chính ḿnh cái quyền được sát hại những người khác biệt niềm tin tôn giáo với ông ta."[12] .

Việc Giáo Hội La Mă xúi giục các tiểu bang miền Nam ly khai, viện trợ tài chánh cùng nhân sự và tích cực tiếp tay cho miền Nam tiến hành chiến tranh chống lại miền Bắc khiến cho chính quyền Hoa Kỳ cắt đứt quan hệ ngoại giao với Ṭa Thánh Vatican kể từ đó cho đến năm 1984. Sự kiện này được ông Lương Minh Sơn ghi lại sự kiện này như sau:

"Đối với Hoa Kỳ, mặc dầu là đất nước được gây dựng trên nền tảng luân lư và đạo đức của niềm tin nơi Thiên Chúa (Judeo-Christian), tổ tiên của người Mỹ là những người Âu Châu đă từng bỏ chạy qua đây để tránh sự ruồng bắt của Ṭa Thánh La Mă trong thời kỳ "Inquisition". Thành thử, Hiến Pháp Hoa Kỳ nghiêm cấm và tách rời mọi sự liên hệ về quyền lực chính trị giữa chính quyền và tôn giáo, không phải chỉ v́ tŕnh độ ư thức chính trị cao mà c̣n là v́ những kinh nghiệm đau đớn có thật lúc trước. Nếu Hoa Kỳ đă cấm bang giao với Cộng Sản Trung Quốc trong 23 năm (1949-1972), với Cộng Sản Việt Nam trong 19 năm (1975-1994) v́ không tương quan trên chính kiến và quyền lợi, th́ Hoa Kỳ cũng đă từng cấm bang giao với Vatican trong 117 năm (1867-1984). Điều này cho thấy, trong thập niên 1950, Ngô Đ́nh Diệm được Đức Hồng Y Spellman và các Ủy Viên Chính Trị Tôn Giáo của một số nhà thờ Mỹ đưa đi gặp một số giới chức Hoa Kỳ chẳng những phải bằng trường hợp bí mật để che dấu nhân dân Hoa Kỳ mà c̣n không thể nào hợp pháp được với hiến pháp của Hiệp Chủng Quốc. Trong khi ông Diệm cho giới chức Hoa Kỳ biết rằng ông "tin tưởng vào Vatican và ông chống Cộng cực lực" th́ năm 1960, Thượng Nghị Sĩ John F. Kennedy đă phải khẳng định với Phó Tổng Thống Richard Milhous Nixon và hàng chục triệu người Mỹ rằng mọi quyết định của ông trên cương vị của một Tổng Thống Hiệp Chủng Quốc sẽ không thể nào bị chi phối bởi tôn giáo của ông. Lư do là v́ ông Kennedy đang tranh cử để trở thành tổng thống đầu tiên và duy nhất của Hoa Kỳ cho đến ngày hôm nay là người Thiên Chúa Giáo La Mă trong một quốc gia mà gần 80% dân số không phải là những người có cùng giáo phái, và không có quyền bang giao với Vatican, {WAR. Census of Religious Groups in U.S."]

Richard M. Nixon và dư luận người Mỹ thắc mắc về trường hợp tín ngưỡng của John F. Kennedy không phải v́ tôn giáo nhưng là v́ chính trị. Hoa Kỳ là một quốc gia chấp nhận đa tôn giáo với hơn 180 hệ phái từ đủ mọi tôn giáo, trong đó có khoảng 60 triệu là người Thiên Chúa La Mă. Vatican vừa là Ṭa Thánh với nhiệm vụ phát huy và bảo tồn giáo luật, vừa là một quốc gia có nhiệm vụ phát biểu và khẳng định quan điểm chính trị để bảo vệ quyền lợi đối với các quốc gia khác trong cộng đồng thế giới. Và Kennedy muốn trở thành tổng thống của một quốc gia đang bị cấm bang giao với quốc gia mà tâm linh ông tin tưởng là điều mà nhân dân Hoa Kỳ có quyền biết trong năm 1960. Nỗi thắc mắc này đă hiện ra trong cuộc bỏ phiếu với sự kiện Kennedy được trội hơn Nixon chỉ có 113.067 dân phiếu trong tổng số 69 triệu phiếu đi bầu, có nghĩa là chưa được 2 phần ngàn số phiêu [6], [TRA, "Political Events - 1960". Thành thử, nếu Ngô Đ́nh Diệm đă trở thành một "Spanish Inquisitor" th́ ngay cả Kennedy cũng không thể nào có thẩm quyền để tiếp tục dung túng ông. Và nếu vấn đề "Inquisition" đă từng có thật ở miền Nam Việt Nam th́ Cộng Sản không phải là nỗi kinh hoàng duy nhất đă xẩy đến cho dân tộc Việt. - Hồ Sơ Ngũ Giác Đài."[13]

Đánh bại được miền Nam và mang lại được nền thống nhất đất nước là công lao vĩ đại và tài lănh đạo vô cùng khôn khéo của Tổng Thống Abraham Lincoln. Nhờ vậy mà Hoa Kỳ mới có thể dồn nỗ lực vào công cuộc kiến thiết đất nước và mở rộng lănh thổ về phía Tây tới tận bở biển Thái B́nh Dương, về phía bắc tới vĩ tuyến 49 rồi lại mua thêm Alaska của nước Nga, về phía nam xuống tới Vịnh Mễ Tây Cơ và biên giới Mexico. Cũng nhờ vậy mà quốc gia này càng ngày càng trở nên hùng mạnh. Chính v́ lẽ này mà nhân dân Hoa Kỳ đă coi Tổng Thống Lincoln là một trong hai vị tống thống vĩ đại nhất trong lịch sử Hoa Kỳ, và đă dành cho ông một chỗ ngồi danh dự nhất trong lịch sử, sánh ngang cùng với Tổng Thống George Washington. Để tri ơn hai vị tổng thống vĩ đại này, Quốc Hội Hoa Kỳ đă chọn một ngày quốc lễ của đất nước gọi là Ngày Tổng Thống (President’ s Day). Ngày quốc lễ này được ấn định vào Ngày Thứ Hai của tuần lễ thứ ba trong Tháng Hai hàng năm.

Cũng nên biết, v́ nhu cầu chiến lược, chính quyền của Cộng Ḥa trong thời Tổng Thống Reagan (20/1/1981–20/1/1989) và thời Tổng Thống Bush (bố) (21/1/1989–20/1/1983), phải cấu kết với Nhà Thờ Vatican để lật đổ các chính quyền Cộng Sản ở Ba Lan và nhiều chính quyền Cộng Sản khác ở Đông Âu. V́ thế mới có chuyện Hoa Kỳ trở lại thân thiện với Vatican, nhưng đó cũng chỉ là giai đoạn. Hiến Pháp Hoa Kỳ vẫn giữ nguyên vẹn Tu Chiến Hiên Số 1, trong đó có điều khỏan “tách rời tôn giáo ra khỏi chính quyền”. V́ thế mà Nhà Thờ Vatican không thể lợi dụng sự thân thiện có tính cách giai đọan trong thời Tổng Thống Reagan (1981-1989) và Tổng Thống Bush (1988-1993) để can thiệp vào các công việc của chính quyền. Tuy nhiên, dù là mang lại thành quả như ư muốn của Đảng Cộng Ḥa, th́ việc cấu kết với Nhà Thờ Vatican cũng làm cho nhân dân Mỹ ghê sợ và t́m cách lánh xa Đảng Cộng Ḥa. Cũng v́ thế mà trong kỳ bầu cử vào tháng 11/1992, nhân dân Hoa Kỳ bất tín nhiệm Đảng Cộng Ḥa và đưa Đảng Dân Chủ lên cầm quyền với hy vọng điều khỏan “tôn giáo tách rời khỏi chính quyền” được triệt để tôn trọng. Xin xem thêm tiểu mục Trường Hợp 12 (Phần VI) trong tập sách Họ và Chúng Ta. Tập sách này đă được đưa lên sáchhiem.net từ ngày 29/12/2008.

9.- Vatican vẫn c̣n bám chặt lấy Việt Nam, vẫn c̣n tiếp tục đánh pháp chính quyền và đất nước nước Việt Nam: Sau ngày 30/4/1975, Hoa Kỳ cuốn gói ra đi khỏi Việt Nam, đứa con đẻ của Giải Pháp Bảo Đại là chính quyền Miên Nam được Hoa Kỳ nuôi dưỡng từ tháng 7/1954 cũng ră đám tan hàng và bọn đầu nậu của các ch́nh quyền tay sai này cũng cuốn gói trốn ra ngọai quốc sống lưu vong giống như Lê Chiêu Thống và bọn ṭng vong chạy trốn sang Trung Hoa hồi đầu năm 1789.

Tuy nhiên, kể từ đó cho đến nay, Vatican vẫn c̣n tiếc rẻ, không chịu buông tha Việt Nam. Cũng v́ thế mà Vatican đă liên tục vận dụng khối tín đồ người Việt, đặc biệt là những tín đồ Da-tô người Việt ở hải ngoại làm đủ mọi tṛ chống phá Việt Nam với dă tâm tạo cơ hội thuận lợi để vận động ngọai cường dùng sức ép can thiệp vào nội t́nh Việt Nam như Vatican đă làm trong thế kỷ 19. Nếu kế hoạch này thành công, Vatican sẽ dùng bọn “Thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” hay “nhất Chúa, nh́ cha, thứ ba Ngô Tổng Thống” để thành lập một chính đảng có danh xưng là “Đảng Dân Chủ Thiên Chúa Giáo” và một hai chính đảng ngoại vi khác trong cái chiêu bài gọi là “dân chủ đa nguyên”. Bước kế tiếp, Vatican sẽ dần dần lấn chiếm tiếm đoạt quyền lực ở Việt Nam theo kế sách cổ truyền mà Vatican đă sử dụng từ thế kỷ thứ 4 cho đến ngày nay (Xin xem Phần I ở sau).

Thủ đọan gian manh qủy quyệt này của Vatican đă được sử gia Loraine Boettner tŕnh bày rơ ràng trong cuốn Roman Catholicism với nguyên văn như sau:

Xuyên suốt chiều dài lịch sử, Giáo Hội La Mă đă t́m cách chiếm đọat quyền lực của nhà nước, nhưng chẳng bao giờ Giáo Hội sẵn sàng từ bỏ quyền lực của Giáo Hội để nhường cho nhà nước. Giáo Hội luôn luôn chống lại việc đóng thuế cho nhà nước, ngay cả tiền thuế đánh vào các tài sản thuần túy dùng vào việc kinh doanh thương mại do chính Giáo Hội làm chủ và chinh Giáo Hội quản lư. Việc Giáo Hội vẫn liên tục can thiệp vào các công việc chính trị ngay cả đến việc bảo trợ cho các đảng phái chính trị của Giáo Hội khi mà thế lực của Giáo Hội đủ mạnh. Thường thường các đảng phái chính trị này có danh xưng là đảng “Dân Chủ Thiên Chúa Giáo” hay một danh xưng khác tương tự. Giáo Hội đă làm như vậy ở các nước Ư, Pháp, Đức, Ḥa Lan, Bỉ, v.v… Nhiệm vụ chính của các chính đảng này là chống đối nhà nước. Chắc chắn là Giáo Hội cũng có kế hoạch làm như vậy ở Hoa Kỳ khi mà thế lực của Giáo Hội đủ mạnh ở quốc gia này.” [14]

Ghê gớm hơn nữa, Vatican c̣n có biệt tài siêu việt về lươn lẹo, lật lọng, đổi trắng thay đen và ăn không nói có. Chuyện Giáo Hội xử lư bà Jeanne d'Arc là một trường hợp đỉển h́nh trong khu rừng thành tích ghê tởm này của Giáo Hội.

Bà Jeanne d'Arc là một nữ anh hùng của dân tộc Pháp. Vào những năm cuối thập niên 1430, chính quyền Anh liên kết với Giáo Hội La Mă đem quân xâm lăng nước Pháp. Bà Jeane d'Arc chiêu mộ được một số quân lính kháng chiến chống lại liên quân Anh-Vatican. Sau một thời gian chiến đấu anh dũng, bà bị quân Anh bắt được. Người Anh đă tính thả bà ra, nhưng Giáo Hội La Mă lại khăng khăng làm áp lực đ̣i phải đưa bà ra ṭa án dị giáo, vu oan cho Bà là "con mụ phù thủy" và "tà giáo", rồi trói vào một cái cọc thiêu sống bà cho tới chết vào năm 1431. Nhận xét về biệt tài vu oan giá họa của Giáo Hội La Mă trong vụ này, học giả Phan Đ́nh Diệm viết:

Trong 7 chương tội mà Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh cáo thú, có nhiều tội danh phải kể là “vượt tội” mang cấp số cộng hay cấp số nhân. Ví dụ: Giáo Hội phạm tội A, muốn giấu kỹ và bưng bít tội A, Giáo Hội nhắm mắt phạm thêm tội B để bảo vệ tính bí nhiệm của tội A. Giáo Hội bị cuốn hút vào quy luật giây chuyền của những con bài dominos, Giáo Hội sẽ phạm thêm tội C để bảo vệ (che giấu)) tội A và tộc B…. Thử tưởng tượng từ ngày Giám-mục Pierre Cauchon (đồng âm với con heo) thiêu sống Bà Thánh Jeanne d’ Arc, cho đến ngày Bà được phong thánh là hơn 400 năm, các ṭa giảng của Giáo Hội trên khắp cơi Âu Châu phải ăn gian nói dối và vu oan giá họa cho Bà bao nhiều lần? Giết bà cũng một tay Giáo Hội, phong thánh cho Bà cũng một tay Giáo Hội, nhưng có mấy ai được may mắn như Bà. Hầu hết các trọng tội mà Giáo hội phạm tại các “Ṭa Điều Tra Dị Giáo” là tội đẻ ra tội theo cấp số cộng và cấp số nhân.”[15]

10.- Vatican vẫn chưa chính thức xin lỗi Việt Nam để nhận lănh trách nhiệm bồi thường thiệt hại cả về tinh thần lẫn vật chất cho đất nước và nhân dân ta từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày 30/4/1975. Trong khi đó th́ Vatican đă chính thức xin lỗi Trung Hoa dù rằng tội ác của Giáo Hội chống phá Trung Hoa nếu đem so với những rặng núi tội ác của Giáo Hội chống lại Việt Nam từ cuối thế kỳ 18 (khi Giám-mục Pigneau de Béhaine (Bá Đa Lộc) vận động chính quyền Pháp viện trợ quân sự và t́m quân viện giúp cho Nguyễn Ánh đánh bại nhà Tây Sơn) cho đến ngày 30/4/1975 th́ chẳng khác nào như đem một mô đất so với rặng núi Hoàng Liên Sơn.

11.- Yếu tố cực kỳ quan trọng là một khi đă thiết lập bang giao với Vatican rồi, th́ Toà Thánh La Mă sẽ có ṭa đại sứ ở Hà Nội và vị đại sứ của Vatican sẽ ngự trị ở trong ṭa đại sứ này. Mối nguy hiểm là khi đó Toà Thánh La Mă sẽ t́m đủ mọi cách để thuyết phục các vị đại sứ của các quốc gia khác ở Hà Nội đề cử viên đại sứ của Vatican làm trưởng đoàn đại sứ các nước ngoài ở Việt Nam. Sự kiện này được sách Roman Catholicism nói rơ như sau:

Vị đại sứ của Vatican tại quốc gia sở tại sẽ t́m cách vận động được chỉ định làm trưởng đoàn ngoại giao, như vậy ông ta sẽ ở cấp bậc cao hơn các vị đại sử của các nước khác tại đây.” (“In each counrty to which a papal ambassador is sent Rome seeks to have her ambassador desingated as the dean of the diplomatic corps, thus giving him rank above the other ambassadors.”[16]

Lúc đó, Ṭa Đai Sứ (Khâm Sứ) của Vatican là trụ sở của Vatican tại Hà Nội để các cho hồng y, tổng giám mục, giám mục và linh mục công khai đến đó để bàn mưu tính kế xúi giục giáo dân nổi đánh phá chính quyền và đất nước ta. Đồng thời, giáo dân càng trở nến ngang ngược hơn, họ chỉ cần biết hành động theo lời xúi bẩy của các đấng bề trên của họ mà không cần biết đến luật pháp quốc gia như trong các vụ nổi loạn tại số 142 Phố Nhà Chung, Hà Nội trong thời gian từ 18/12/2007 đến ngày 30/1/2008, và vụ gây bạo loạn phá tường tràn vào chiếm đóng Công ty may Chiến Thắng tại số 180 Đường Nguyễn Lương Bằng (Phương Đồn Đa, Hà Nội) từ ngày 18/8/2008 cho đến nay (30/8/2008).

Với những việc làm tội ác trời không dung đất không tha trong gần hai ngàn năm qua, Giáo Hội La Mă mà cơ quan đầu năo là Ṭa Thánh Vatican đă trở thành tập đoàn tội nhân thiên cổ trong lịch sử nhân loại với thành tích vi phạm nhân quyền cao nhất trong lịch sử thế giới.

Những hành động can thiệp vào nội t́nh Việt Nam từ cuối thế kỷ 18 với những việc làm vận động đế quốc Pháp cùng siêu cường Hoa Kỳ liên minh với Vatican để cùng can thiệp vào nội t́nh Việt Nam và việc vận dụng tín đồ Da-tô người Việt thành những người phản quốc chống lại đất nước chúng ta trong mấy thế kỷ vừa qua là những kinh nghiệm xương máu cho chúng ta thấy rằng thiết lập bang giao với Vatican là một việc làm vô cùng nguy hiểm cho tổ quốc Việt Nam.

Tóm lại, NẾU thiết lập quan hệ ngọai giao với Vatican, TH̀ sẽ nguy hại vô cùng, và không có một điều nào có lợi cho nước nhà.

(c̣n tiếp)

Trân trọng,

Nguyễn Mạnh Quang

 

Trích sachhiem.net, ngày 17/2/09

NHVN, ngày 27/3/09

 

CHÚ THÍCH

[1] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipsburg, New Jersey: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), tr. 424.

[2] Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr. 245-246.

[3] Trần Tam Tỉnh, Thập Giá Và Lưỡi Gươm (Paris, Sudestasie, 1978), tr. 14-15.

[4] Trần Tam Tỉnh, Sđd., tr. 54[4].

[5] Loraine Boettner. Ibid., p. 35. [“The people in turn are expected to obey the priest, and to support him and the church through their services and money. They are trained and disciplined to that end from childhood. No one is to question the authority of the priest, even in domestic of family affairs. Democratic processes are discouraged. Lay organizations have only very limited scope, usually are not encouraged, and are excluded from authority in the church at large. Such lay organizations as do exist have clerical sponsors.”]

[6] Anatole G. Mazour & John M. Peoples. Men and Nations (New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1975), p. 217.

["The pope's call for a crusade.- Pope Urban II (1088-1099) was eager to promote the idea of Christian offensive to regain the Holy Land from Moslems. In 1095 he called a great meeting of churchmen and French nobles at Clemon, France. He urged the powerful nobles to stop warring among themselves and join in one great war against unbelievers....

Men joined the Crusades for many different reasons. The pope promised both heavenly and earthly rewards. All the sins of a crusader were forgiven. His property and family were guaranteed protection by the Church during his absence. A debtor who took the cross had his debts canceled; a criminal was relieved of punishment. Knights were dazzled by the lure of lands and plunder in the rich Near East. Merchants saw and chance for commercial gain. The Crusades were partly religious expeditions, but they appealed to men's love of adventure, hope of gain, and desire to escape debts, punishment, or boredom."]

[7] Avro Manhattan, Vietnam why did we go? (Chino, CA: Chick Publications, 1984), p. 157.

["The study of historical patterns reveals a formula which the Catholic Church has used for centuries, namely identification of her religious objectives with those of a major lay political power of a given period. As we have seen, she used this formula in Asia when she identified herself with the major powers of those days, Prortugal, Spain, and France.

In Europe the formula was applied several times in this century. She identified herself at vaious intervals with France, then with the Catholic Empire of Austria-Hungry during the First World War, and with the right wing dictatorships of Italy and Germany, before and during the Second World War. She advanced her interests in the wake of these Powers by identified herself with their economic, political and war interest.

Since the end of the Second World War and the annihilation of European fascism she adopted the U.S. as her lay partner, in the absence of a Catholic superpower. This was prompted by the grim reality of the appearance of Boshevism and the growing military presence of Soviet Russia after World War II. The menacing reality of these two compelled the Vatican and the U.S. together and in due course force them into veritable alliance known as the Cold War."]

[8] Charlie Nguyễn, Công Giáo Trên Bờ Vực Thẳm (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2001), tr. 105-106.

[9] Malachi Martin, Rich Church Poor Church (New York: G. P. Putnam’s Sons, 1984) p. 90.

[10] Loraine Boettner, Roman Catholicism (Phillipspburg, New Jersey: The Presbyterian and Reformed Publishing Company, 1962), pp 127-128.

[ When the triple crown is placed on the head of a new pope at his “coronation” ceremony the ritual prescribes the following declaration by the officiating cardinal: “Receive the tiara adorned with three crowns, and know what thou art the Father of Pricnces and Kings, Ruler of the World, the Vicar of our Saviour Jesus Christ….” (National Catholic Almanac.)

The New York Catechism says:

“The pope takes the place of Jesus Christ on earth… By divine right the pope has supreme and full power in faith and morals over each and every pastor and his flock. He is the true Vicar of Christ, the head of the entire church, the father and teacher of all Christians. He is the infallible ruler, the founder of dogmas, the author of and the judge of councils; the universal ruler, the arbiter of the world, the supreme judge of heaven and earth, the judge of all, being judged by no one, God himself on earth.”

And pope Leo XIII (1878-1903), in his encyclical, The Reunion of Christendom (1885), declared that the pope holds “upon this earth the place of God Almighty.”

Thus the Roman Church holds that the pope, as the vicar of Christ on earth, is the ruler of the world, supreme not only over the Roman Church itself but over all kings, presidents, and civil rulers, indeed over all peoples and nations. The fact is that on numerous occasions the popes have exercised that authority in countries where the Roman Church was strong. They have excommunicated and deposed kings and governors and, as in the cases of Queen Elizabeth I of England, and Emperor Henry IV of Germany, they have attempted to arouse rebellions by releasing subjects from any alliegiances to their rulers. They have been prevented from exercising such authority in the United States because they do not control here and because our Constitution serves as a shield against such outside interference.

The pope thus demands a submission from his people, and indeed from all people in so far as he is able to make effective, which is due only God. Sometimes that submission takes a particularly servile form, with even the cardinals, the next highest ranking officials in the Roman Church, prostrating themselves before him and kissing his feet! The popes have gone so far in assuming the place of God that they even insist on being call His name. E.g. “the Holy Father,” His Holiness, etc…”]

[11] Loraine Boettner, Ibid., p. 424.

[12] Jack.T.Chick , Smokescreens (Chino, Chick Publications, 1983) tr. 85-86. ["This war would never been possible without the sinister influence of the Jesuits. We owe it to the popery that we now see our land reddened with the blood of her noblest sons. Though there were great differences of opinion between the South and the North on the question of slavery, neither Jeff Davis nor anyone of the leading men of the Confederacy would have dared to attack the North, had they not relied on the promises of the Jesuits, that, under the mask of Democracy, the money and the arms of the Roman Catholic, even the arms of France were at their disposal, if they would attack us. I pity the priests, the bishops and monks of Rome in the United States, when the people realize that they are, in great part, responsible for the tears and the blood shed in this war. I conceal what I know, on that subject, from the knowledge of the nation; for if the people knew the whole truth, this war would turn into a religious war, and it would at once, take a tenfold more savage and bloody character. It would become merciless as all both sides. The Protestants both the North and the South would surely united to exterminate the priests and the Jesuits, if they could hear what Professor Morse has said to me of the plots made in the very city of Rome to destroy this Republic, and if they could learn how the priests, the nuns, and the monks, which daily land on our shores, under the pretext of preaching their religion, instructing the people in their schools, taking care of the sick in the hospitals, are nothing else but the emissaries of the Pope, of Napoleon, and the other despots of Europe, to undermine our institutions, alienate the hearts of our people from our constitution, and our laws, destroy our schools, and prepare a reign of anarchy here as they have done in Ireland, in Mexico, in Spain, and wherever there are any people who want to be free."


"And then President Abraham Lincoln went on to say: "Is it not an absurdity to give a man a thing which is sworn to hate, curse, and destroy? And does not the Church of Rome hate, curse and destroy liberty of conscience whenever she can do it safely? I am for liberty of conscience in its noblest, broadest, highest sense. But I cannot give librerty of conscience to the Pope and to his followers, the Papists, so long as they tell me, through all their councils, theologians, and canon laws, that their conscience orders them to burn my wife, strange my children, and cut my throat when they find their opportunity! This does not seem to be understood by the people today. But sooner or later, the light of common sense will make it clear to every one that no liberty of conscience can be granted to men who are sworn to obey the Pope, who pretends to have right to put death those who differ from him religion."
]

[13] Lê Hữu Dản, Sự Thật (Đặc San Xuân Đinh Sửu 1997), (Fremont, CA: TXB: 1997), tr 28-29.

[14] Loraine Boettner, Ibid., p.15.  [“Throughout history the Roman Church has sought to gain power from the state, but has never willingly relinquished power to the state. It has always resented paying taxes to the state, even on purely commercial properties that are owned and operated by it, and it has resented any law requiring priests to pay income taxes. The continual meddling on the Roman Church in politics, even to the extent of sponsoring Roman Catholic political parties where it is strong enough to do so (usually known as the “Christian Democratic” party, or similar name, as in Italy, France, Germany, Holland, Belgium, etc.), has caused much resentment. That, no doubt, is also its plan for the United States if and when it becomes strong enough. …”]

[15] Phan Đinh Diệm,”Mea Culpa – Giáo Hội Công Giáo Roma La-tinh Cáo Thú Tội Lỗi Ngàn Năm.www.kitohoc.com/Bai/Net066.html Ngày 4/5/2000.

[16] Loraine Bottner, Ibid., tr. 130



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend