TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

TIẾN SĨ DANIEL ELLSBERG VÀ CHIẾN TRANH VIỆT NAM


Flag of Cambodia  Flag 

 

 

 

<> QUỐC KỲ - QUỐC CA 

<> QUỐC KỲ VIỆT NAM

<> QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA  

 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới 

 

Tin Thế Giới & Việt Nam

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

 

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

 

 

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

 

 

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

 

 

Những Tài Liệu Và  Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 

 

Những Siêu Điệp Viên LLVT

 

 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái”  Ăn  Phân T́nh Báo Mỹ NED

 

 

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

 

 

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

 

 

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

 

 

 Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

 

 

 

Trân Chung Ngọc

 

Charlie Nguyễn 

Hoàng Linh Đỗ Mậu

 

Hoàng Nguyên Nhuận

 

  Nguyễn Mạnh Quang

 

 

 Giuse Phạm Hữu Tạo

 

 

Nguyễn Đắc Xuân

 

 

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

 

 

Thân Hữu  

 

 

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

  

 

Trang Nối Kết

 

 

 

 

Websites trong nước

 

 

* Cong San

* Nhan Dan

* Cong An N.D.

* Lao Dong

* Thanh Nien

* Tuoi Tre

* Saigon G, P.

* VNA Net

* Voice of V.N.

* Dan Tri.

 

 

Websites hải ngoại

 

 

* Chuyen Luan.

* Sach Hiem

* Dong Duong Thoi Bao

* Giao Diem Online

* Charlie Nguyen

 

 

 

Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu:

Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

"Das Kapital" trở thành loại sách gối đầu giường.
Luận điểm cơ bản của chủ thuyết kinh tế thị trường - "Hăy để thị trường tự quyết và hành xử những vấn đề của nó" - đang lung lay nghiêm trọng khi vô số công ty, tập đoàn tư nhân khổng lồ của Mỹ và châu Âu giờ đây buộc phải chịu sự "bảo kê" của nhà nước. Đó là lư do tại sao ngày càng có nhiều ư kiến khơi dậy tư tưởng cũng như những phân tích mặt trái chủ nghĩa tư bản mà Karl Marx từng đưa ra cách đây hơn một thế kỷ...

 

 

Gần đây, trong giới nghiên cứu kinh tế học theo luận thuyết Karl Marx quyển “Das Kapital” (Tư bản luận) của ông đang trở thành sách gối đầu giường cho nhiều người phương Tây. Trong “Das Kapital”, Marx nhấn mạnh giới chủ làm giàu trên xương máu họ. Và giới trùm tư bản sẽ phải đổ sụp dưới sức nặng của những mâu thuẫn nội tại. Có vẻ như điều này hoàn toàn đúng với những ǵ đă xảy ra với tập đoàn tài chính bị phá sản mới đây Lehman Brothers cũng như nhiều tập đoàn tài chính tư bản khác. Chẳng phải tự nhiên mà trong bài viết gần đây trên Washington Post, tác giả Anthony Faiola đă đặt câu hỏi rằng liệu có phải chủ nghĩa tư bản Mỹ đang đến hồi cáo chung hay không? click Từ Cuộc Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu: Càng Thấy Karl Marx Vĩ Đại

 

 

 

hân

 

 

 

TIẾN SĨ DANIEL ELLSBERG

ĐẤU TRANH CHO SỰ THẬT VÀ HOÀ B̀NH

 

Tiến Sĩ Phan Văn Hoàng

 

 

01  

Năm 1962, Daniel Ellsberg (tên thường gọi là Dan) bảo vệ thành công luận án “Sự rủi ro, sự mơ hồ và sự giải quyết” (Risk, Ambiguity and Decision) và được Trường Đại học Harvard - một trong vài trường nổi tiếng nhất ở Mỹ - trao học vị Tiến sĩ kinh tế học.

 

Tuy nhiên, măi cho đến đầu năm 1969, các hoạt động của Dan mới gắn liền với chiến tranh thay v́ với kinh tế.

 

 

Từ diều hâu... 

Lớn lên trong xă hội Mỹ thời chiến tranh lạnh, Dan (1) nhiễm nặng tư tưởng chống chủ nghĩa xă hội, chống cách mạng, chống phong trào giải phóng dân tộc, luôn ủng hộ chính sách và hoạt động của các chính phủ Mỹ trong chiến tranh Triều Tiên, chiến tranh Đông Dương lần thứ I và lần thứ II.

 Sau khi tốt nghiệp Cao học kinh tế, Dan t́nh nguyện gia nhập Thuỷ quân lục chiến (1954-1957). Từ năm 1959, Dan làm việc tại hăng Rand Corporation, một công ty tư nhân chuyên nghiên cứu các vấn đề chiến lược theo đơn đặt hàng của Nhà Trắng và Lầu Năm Góc. Năm 1964, Dan được John McNaughton (trợ lư Bộ trưởng Quốc pḥng phụ trách những vấn đề an ninh quốc tế) mời làm trợ lư đặc biệt. Năm sau, Dan t́nh nguyện sang miền Nam Việt Nam với tư cách là chuyên viên cao cấp của Bộ Ngoại giao chuyên đánh giá t́nh h́nh b́nh định nông thôn cho Toà Đại sứ Mỹ ở Sài G̣n. Bị bệnh viêm gan, Dan về Mỹ trong mùa hè 1967 và trở lại làm việc cho hăng Rand. 

Vào lúc đó, hơn 450.000 lính viễn chinh Mỹ đang tham chiến ở miền Nam Việt Nam. Tuy Mỹ đă tiêu tốn 110 tỉ đôla và có hơn 10 vạn lính Mỹ bị thương hay bỏ mạng tại đây, nhưng đế quốc giàu mạnh nhất thế giới này vẫn không đè bẹp được ư chí chiến đấu “v́ Độc lập, v́ Tự do” của dân tộc Việt Nam. Robert McNamara - Bộ trưởng Quốc pḥng dưới hai đời tổng thống Kennedy và Johnson - thừa nhận: “Tôi thấy rơ là chính sách và chương tŕnh của chúng ta ở Đông Dương đă tiến triển theo những đường hướng mà chúng ta không lường trước được và cũng không muốn như vậy; sự thiệt hại về nhân mạng, về chính trị, về xă hội và về kinh tế (của Mỹ) vượt xa hơn tưởng tượng của mọi người” (By now it was clear to me that our policies and programs in Indochina had evolved in ways we had neither anticipated nor intended, and that the costs – human, political, social, and economic – had grown far greater than anyone had imagined) . McNamara thừa nhận: “Chúng ta đă thất bại” (We had failed) và đặt ra hàng loạt câu hỏi: “Tại sao lại thất bại như thế? Có thể ngăn ngừa trước thất bại ấy chăng? Có thể rút ra những bài học ǵ từ kinh nghiệm của chúng ta để giúp những người khác tránh được những thất bại tương tự?” (Why this failure ? Could it have been prevented ? What lessons could be drawn from our experiences that would enable others to avoid similar failures ?) (2).

Để trả lời những câu hỏi ấy, McNamara giao cho McNaughton và phụ tá của ông này là Morton Halperin sưu tầm những tư liệu gốc từ 1945 trở đi của Bộ Quốc pḥng và các cơ quan khác như Nhà Trắng, Bộ Ngoại giao, Cục T́nh báo trung ương CIA, Hội đồng các tham mưu trưởng liên quân CJS... để biên soạn công tŕnh “Lịch sử quá tŕnh Mỹ đề ra các quyết định về chính sách đối với Việt Nam” (History of United States Decision-Making Process on Vietnam Policy). 

Một nhóm nghiên cứu được thành lập, do Leslie H. Gelb, trưởng Pḥng hoạch định chính sách của Ban An ninh quốc tế thuộc Bộ Quốc pḥng, làm trưởng nhóm, gồm 36 chuyên gia (hai phần ba số chuyên gia này từng tham chiến hay làm việc tại miền Nam Việt Nam).

Dan, chuyên gia của hăng Rand, từng làm trợ lư đặc biệt cho McNaughton ba năm trước, được mời tham gia nhóm. Dan kể lại: lúc đó, “tôi vẫn c̣n là một chiến sĩ trong cuộc chiến tranh lạnh  đang đi t́m những bài học từ kinh nghiệm của chúng ta ở Việt Nam có thể giúp Mỹ đánh bại các cuộc nổi dậy của Cộng sản ở những nơi khác trên thế giới...” (I was still a cold warrior looking for lessons in our Vietnam experience that could help the United States defeat Communist insurgencies elsewhere in the world) (3). 

Từ ngày 17.6.1967, nhóm bắt tay vào việc thu thập và phân tích các tư liệu. V́ công tŕnh này - về sau được biết đến dưới cái tên “Tài liệu Lầu Năm Góc” (TLLNG) (The Pentagon Papers) - là tài liệu tham khảo nội bộ chỉ dành riêng cho những cấp cao nhất đang chỉ huy chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam, nên McNamara nhắc nhở các nhà nghiên cứu phải khách quan và cho phép họ không phải ghi tên ḿnh dưới các bài viết để họ có thể tự do đưa ra các nhận định mà không sợ cấp trên có thành kiến.

Hơn một tháng sau, ngày 19.7, McNaughton chết trong một tai nạn máy bay, Paul C. Warnke (trợ lư Bộ trưởng Quốc pḥng) lên thay.

Sau khi McNamara rời Lầu Năm Góc (29.2.1968), việc biên soạn TLLNG vẫn tiếp tục.

Ngày 15.1.1969, tức 5 ngày trước khi tổng thống Nixon thay Johnson ở Nhà Trắng, TLLNG hoàn tất sau 1 năm rưỡi biên soạn. Đây là một công tŕnh khá đồ sộ, chia làm 47 tập, gồm khoảng 2 triệu rưỡi từ, dày hơn 7.000 trang (hơn 4.000 trang tư liệu gốc và gần 3.000 trang phân tích của các nhà nghiên cứu). 

TLLNG chứa đựng nhiều sự kiện mà vào thời điểm ấy nhiều người chưa biết. Chẳng hạn:

- Sau Chiến tranh thế giới lần thứ II, tổng thống Truman viện trợ ngày càng nhiều để Pháp tiến hành chiến tranh tái chiếm Đông Dương làm thuộc địa; từ năm 1950, Truman gửi cố vấn quân sự sang Đông Dương, đưa nước Mỹ dính líu trực tiếp vào cuộc chiến này.

- Từ năm 1954 trở đi, chính phủ Eisenhower duy tŕ một chính phủ thân Mỹ ở miền Nam, bất chấp điều khoản về tổng tuyển cử để thống nhất Việt Nam qui định trong Hiệp định Genève.

- Tổng thống Kennedy gia tăng số cố vấn quân sự Mỹ lên đến 16.000 người, mở rộng sự can thiệp vào Việt Nam.

- Dưới thời tổng thống Johnson, nước Mỹ ngày càng lún sâu vào chiến tranh Việt Nam, trực tiếp tham chiến ở miền Nam, ném bom phá hoại miền Bắc v.v...

TLLNG chỉ được in 15 bộ, dành cho các tổng thống Johnson, Nixon, một vài quan chức cao cấp của Bộ Quốc pḥng và Bộ Ngoại giao. McNamara lúc đó đă chuyển sang làm chủ tịch Ngân hàng thế giới, nhưng cũng được tặng 1 bộ v́ chính ông là người có sáng kiến biên soạn công tŕnh này. Hăng Rand cũng được giữ 1 bộ để các chuyên gia của hăng tham khảo. Tất cả các bộ TLLNG được bảo quản theo chế độ tài liệu tối mật (top secret), chỉ những người có phận sự mới được đọc. 

  ... Trở thành bồ câu 

Càng tiếp xúc với các tư liệu gốc, Dan càng nhận thấy: bốn chính phủ liên tiếp của Mỹ đă nhiều lần che giấu, thậm chí lừa dối dân chúng và Quốc hội Mỹ về những ǵ họ làm ở Việt Nam. Chẳng hạn, để có cớ ném bom miền Bắc, Johnson đă không ngần ngại nguỵ tạo “Sự kiện Vịnh Bắc Bộ”, trong khi tàu tuần tra của miền Bắc không hề tấn công khu trục hạm Maddox của Mỹ trong đêm 4.8.1964.

Trong cuộc tranh cử chức tổng thống năm 1968, Nixon tuyên bố úp mở rằng ông ta có sẵn một kế hoạch chấm dứt chiến tranh ở Việt Nam. Điều đó khiến cử tri Mỹ dồn phiếu cho ông. Nhưng sau khi đắc cử, ông ta không chỉ đẩy mạnh các hoạt động quân sự ở Việt Nam mà c̣n mở rộng chiến tranh sang Lào và Campuchia. 

Trước những phát hiện đó, Dan cảm thấy hối hận v́ đă có một thời ủng hộ cuộc chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam. Ông tâm sự với nhà báo Tom Oliphant: “Tôi đă tham gia một âm mưu tội ác nhằm tiến hành một cuộc chiến tranh xâm lược” ( I was participating in a criminal conspiracy to wage aggressive war) (4). Ông nhận định: “Bảy ngh́n trang tài liệu là bằng chứng của sự nói dối của bốn vị tổng thống và chính quyền của họ trong hơn 23 năm qua [1945-1968] để che giấu những kế hoạch và hành động giết người hàng loạt. Tôi quyết định không che giấu nữa. Bằng cách này hay bằng cách khác, tôi sẽ tiết lộ nó” (Seven thousand pages of documentary evidence of lying, by four presidents and their administrations over twenty-three years, to conceal plans and actions of mass murder. I decided I would stop concealing that myself. I would get it out somehow) (5) v́ “cách duy nhất để thay đổi hành động của một tổng thống là gây sức ép đối với ông ta từ bên ngoài, từ Quốc hội và từ công chúng” (The only way to change the president’s course was to bring pressure on him from outside, from Congress and the public) (6). 

Từ 1.10.1969, hằng đêm, Dan tự tay sao chụp TLLNG trên một máy photocopy cũ kỹ, với sự giúp đỡ của người bạn cùng chí hướng Anthony Russo và đứa con trai 14 tuổi Robert B. Ellsberg. Công việc được tiến hành một cách bí mật tuyệt đối để không bị phát hiện. Việc sao chụp hơn 7.000 trang này đă tiêu tốn “toàn bộ số tiền để dành khoảng 3 hay 4.000 đôla” của Dan (the cost of making several thousand copies took ‘all our savings of three or four thousand dollars’ ) (7).

Sau khi sao chụp xong, Dan đưa TLLNG cho một số nghị sĩ có lập trường chống chiến tranh, đề nghị họ công bố trước Quốc hội, nhưng họ viện ra những lí do khác nhau để từ chối. Chỉ có thượng nghị sĩ Mike Gravel nhận lời. Đêm 29.6.1971, ông đă đọc TLLNG trong một cuộc họp ở Thượng viện, sau đó phân phát cho các nhà báo.

Trước đó, từ tháng 2.1971, Dan đă bí mật trao TLLNG cho báo The New York Times (NYT). Sau một thời gian chuẩn bị, tờ NYT bắt đầu công bố TLLNG trên trang nhất số ra ngày 13.6.1971  kèm theo bài b́nh luận nhan đề “Bản nghiên cứu của Lầu Năm Góc chỉ ra ba thập niên dính líu ngày càng sâu của Mỹ” (Pentagon Study Traces Three Decades of Growing US Involvement ). 

0202

 

Việc tiết lộ TLLNG như quả bom nổ tung giữa ḷng nước Mỹ. Trong khi dân chúng náo nức t́m đọc những thông tin mật th́ tổng thống Nixon vô cùng tức tối. Phản ứng đầu tiên của ông là “chụp mũ Cộng sản” cho người tiết lộ. Ông viết: “Chúng tôi nhận được một báo cáo theo đó Toà Đại sứ Liên Xô ở Washington đă nhận được một bản sao TLLNG trước khi nó được báo NYT công bố” (Nous recevons un rapport selon lequel l’ambassade sovietique a Washington avait reçu une copie des Papiers du Pentagone avant qu’ils soient publiés par le New York Times ) (8). Với kiểu cáo buộc này, Dan sẽ khó thoát khỏi tội làm gián điệp cho Liên Xô, “kẻ thù số 1” của Mỹ lúc đó.

Nixon chỉ thị cho Bộ trưởng Tư pháp John Mitchell xử lư vụ này.

Ngày 15.6, Mitchell gửi điện cho Ban biên tập báo NYT yêu cầu ngưng ngay việc công bố TLLNG và giao nộp bản sao cho Bộ Quốc pḥng. Ban biên tập NYT từ chối.

Chiều cùng ngày, Mitchell nhờ Toà án liên bang can thiệp. Toà án liên bang đề nghị báo NYT tạm ngưng công bố, chờ phán quyết của Toà.

Ngày 19.6, căn cứ vào Tu chính án số 1 của Hiến pháp Mỹ về quyền tự do ngôn luận, Toà án liên bang kết luận: báo chí được quyền đăng tải TLLNG.

Chính phủ Mỹ chống án lên Toà thượng thẩm. Toà thượng thẩm huỷ bỏ kết luận của Toà án liên bang.

Đến lượt tờ NYT kháng cáo lên Toà án tối cao.

Ngày 30.6, có 6 trong tổng số 9 thẩm phán của Toà án tối cao bỏ phiếu cho phép báo chí tiếp tục công bố TLLNG. Đây là một thắng lợi của quyền tự do báo chí trước chiêu bài “bảo vệ an ninh quốc gia” của chính phủ Mỹ.

Tờ NYT tiếp tục đăng loạt bài về TLLNG. Trước đó, từ 18.6, tờ The Washington Post đă nhập cuộc trước khi có phán quyết của Toà án liên bang. Mười bảy tờ báo khác cũng tham gia. Đài truyền h́nh dành 15 phút trong tổng số 30 phút của chương tŕnh thời sự trong nước hằng đêm để nói về TLLNG. Trong thời gian ấy, ở đâu trên nước Mỹ cũng nghe người dân xôn xao bàn tán về đề tài nóng bỏng này. Việc đăng tải TLLNG kèm theo lời b́nh luận mở ra một trang mới trong lịch sử báo chí Mỹ: từ nay, nhiệm vụ hàng đầu của nhà báo là dám nói lên sự thật, kể cả vạch trần những sai trái của chính phủ, chứ không chỉ tường thuật những ǵ các chính khách nói và làm.

Ngay trong tháng 7.1971, tờ NYT xuất bản TLLNG thành sách (9), dày 678 trang, gồm một số tư liệu gốc quan trọng và 10 bài phân tích của các nhà báo Neil Sheehan, Hedrick Smith, Kenworthy và Fox Butterfield. 

04  04 


Qua tháng sau, ấn bản TLLNG của thượng nghị sĩ Mike Gravel (10) đầy đủ hơn, gồm 4 tập với 2.900 trang, chưa kể tập V gồm các bài b́nh luận của một số học giả.

Cũng trong năm 1971, theo yêu cầu của Uỷ ban quân vụ Hạ viện Mỹ, Bộ Quốc pḥng biên soạn cuốn Quan hệ Mỹ - Việt Nam 1945-1967  gồm 12 tập, dựa trên TLLNG (11). 
 

Cuộc đấu tranh v́ sự thật và hoà b́nh 

Không chỉ t́m cách bịt miệng báo chí, tổng thống Nixon c̣n quyết tâm trả thù người mà Henry Kissinger (cố vấn an ninh quốc gia của Nixon) gọi là “người nguy hiểm nhất nước Mỹ” (the most dangerous man in America). 

06

Ngay trong ngày đầu tiên TLLNG được công bố trên tờ NYT, Nixon đă chỉ thị cho John Mitchell: “Hăy tống thằng chó đẻ ấy vào tù” (Let’s get the son-of-a-bitch into jail ) (12). Trong những ngày sau đó, không ngày nào Nixon không bàn với các người cộng sự gần gũi của ông ta về Dan, với lời lẽ không lấy ǵ làm tao nhă cho lắm:

“Ư của tôi là truy tố mấy tên khốn chết tiệt đă trao tài liệu cho bọn nhà báo” ( My view is to prosecute the goddamn pricks that gave it to ‘em ) (nói với John Ehrlichman, cố vấn đối ngoại của tổng thống, ngày 14.6) (13).

“Anh có thể đưa thằng chó đẻ Ellsberg ra xét xử trước toà ngay lập tức được không?” (Can you haul in that son-of-a-bitch Ellsberg right away ? ) (nói với Mitchell, ngày 15.6) (14).

“Tại sao FBI (Cơ quan điều tra liên bang) chưa tóm được hắn và tống hắn vào tù?” ( Why doesn’t the FBI pick him up, throw him in the can ?) (nói với Haldeman, chánh văn pḥng Phủ tổng thống, ngày 17.6) (15).

v.v... 

Ngày 17.6, hai nhân viên FBI đến nhà số 10 đường Halliard ở Cambridge (thành phố Boston) t́m Dan. Rất may, lúc đó Dan và vợ Patricia không có mặt ở nhà. Từ đó, hai vợ chồng phải liên tục thay đổi chỗ ở. Báo chí mô tả cuộc truy lùng Dan là “cuộc săn người lớn nhất của FBI kể từ vụ bắt cóc cháu bé Charles A. Lindbergh Jr.” hồi tháng 3.1932 ( the largest FBI manhunt since the Lindbergh kidnapping ) (16). Tuy phải lẩn trốn, Dan vẫn giữ liên lạc với báo, đài. Ngày 21.6, trả lời tuần báo Newsweek, Dan nhận định: TLLNG là “điểm xuất phát tốt để thực sự hiểu được cuộc chiến tranh (của Mỹ ở Việt Nam), là tài liệu về phía Mỹ tương đương với những tài liệu về tội ác chiến tranh (của Đức Quốc xă) tại (Toà án quốc tế) Nuremberg” (  a good starting point for a real understanding of the war, the U.S. equivalent of the Nuremberg war-crimes documents ) (17). Hai ngày sau, Dan xuất hiện trên Đài truyền h́nh CBS để trả lời cuộc phỏng vấn của nhà báo Walter Cronkite.

Ngày 25.6, Toà án liên bang ra lệnh Dan phải ra tŕnh diện ngay. Nhưng Dan vẫn tiếp tục lẩn trốn thêm ba ngày nữa để phân phát nốt các bản sao TLLNG.

Sáng 28.6, Dan đến trụ sở Toà án liên bang. Trước các nhà báo và bạn bè, Dan tuyên bố: “Với tư cách là một công dân có trách nhiệm, tôi cảm thấy không thể cộng tác (với chính phủ Mỹ) lâu hơn nữa trong việc che giấu thông tin đối với công chúng... Đối với tôi, (việc tiết lộ TLLNG) là một hành động của hy vọng và tin tưởng. Tôi hy vọng rằng sự thật sẽ giải thoát chúng ta khỏi cuộc chiến tranh này. Tôi tin tưởng rằng người Mỹ một khi được thông tin sẽ buộc những quan chức của họ ngừng nói dối và (lính) Mỹ ở Đông Dương ngừng giết người và ngừng chết chóc” (As a responsible citizen, I felt I could no longer cooperate in concealing this information from the American public … This has been for me an act of hope and of trust. Hope that the truth will free us of this war. Trust that informed Americans will direct their public servants to stop lying and to stop the killing and dying by Americans in Indochina ) (18).

Hai giờ sau, Dan được tại ngoại hậu tra sau khi nộp 50 vạn đôla tiền bảo lănh. Tranh thủ thời gian được tự do tạm, Dan công bố thêm 500 trang tài liệu mật của chính phủ Nixon (được các báo The Washington Post The Washington Star đăng từ 25.4.1972), viết cuốn Papers on the War (Tài liệu về chiến tranh) do nhà xuất bản Simon and Schuster ở New York ấn hành trong năm 1972. 

Tháng 5.1972, Toà án tối cao mở phiên toà xét xử Dan và Anthony Russo tại Los Angeles. Dan bị chính phủ Nixon cáo buộc 12 tội (trong đó có tội làm gián điệp, tội ăn cắp tài sản của chính phủ, tội phổ biến tài liệu mật cho những người không được phép biết v.v.) với mức án tổng cộng lên tới 115 năm tù. Phiên toà kéo dài suốt một năm trời.

Năm 1972 là năm bầu cử tổng thống ở Mỹ. Nixon xem việc đắc cử thêm một nhiệm kỳ nữa là mối quan tâm hàng đầu, nên cho John Mitchell thôi giữ chức bộ trưởng Tư pháp sang làm chủ tịch Uỷ ban tái cử tổng thống (Committee to Re-elect the President, viết tắt CREEP) để chỉ đạo chiến dịch tranh cử cho Nixon.

Trước đó, ngày 17.7.1971, Nixon chỉ thị cho Ehrlichman thành lập Đơn vị điều tra đặc biệt (Special Investigative Unit, viết tắt SIU) - thường được gọi là Nhóm thợ ống nước (the Plumbers Group) - để đối phó với vụ ṛ rỉ TLLNG (về sau, nhiệm vụ của nhóm được mở rộng thêm).

Ngày 17.6.1972, cảnh sát bắt quả tang 5 thành viên của nhóm SIU đang đột nhập vào trụ sở Uỷ ban toàn quốc của Đảng Dân chủ đặt tại toà nhà Watergate ở thủ đô Washington. Việc này xảy ra giữa mùa tranh cử nên mọi con mắt đổ dồn về phía Nixon, ứng cử viên của Đảng Cộng hoà. Ngay lập tức, Nixon tuyên bố Nhà Trắng cũng như CREEP không liên can. Ngày 23.6, Nixon ra lệnh cho FBI ngưng điều tra vụ Watergate. Mặt khác, ông bí mật trích từ quỹ vận động tranh cử của ông 7 vạn rưỡi đôla chi cho Howard Hunt (một thành viên của SIU) để anh này không tiết lộ “những chuyện bẩn thỉu mà anh ta đă làm cho Nhà Trắng” ( to reveal the seamy things he had done for the White House ) (19).

Tuy nhiên, qua các cuộc thẩm vấn, các thành viên của SIU, rồi các trợ lư, cố vấn của Nixon dần dần khai nhận SIU không chỉ đột nhập vào toà nhà Watergate mà trước đó c̣n lẻn vào văn pḥng bác sĩ Lewis Fielding ở Beverly Hills để lấy cắp hồ sơ bệnh lư của Dan nhằm bêu riếu Dan mắc bệnh tâm thần. SIU c̣n làm nhiều chuyện phi pháp khác như nhiều lần nghe lén điện thoại của Dan, cho người tấn công Dan khi Dan phát biểu tại cuộc biểu t́nh phản chiến tổ chức ngày 3.5.1972 trước trụ sở Quốc hội v.v.

Trong bối cảnh đó, ngày 11.5.1973, Toà án tối cao ra phán quyết bác đơn của chính phủ, tuyên bố Dan và Russo vô tội. 

07

 Trong lúc mọi người hân hoan đón nhận tin vui th́ Nixon tâm sự với Haldeman với giọng cay đắng: “Cái tên ăn trộm chó đẻ đó được tôn vinh làm anh hùng dân tộc và thoát khỏi tội nhờ một vụ án xử sai... Chúng mượn bọn trộm cắp ấy để tấn công chúng ta” ( The sonofabitching thief is made a national hero and is going to get off on a mistrial … They’re trying to get at us with thieves ) (20).

Những việc làm sai trái của Nixon và thuộc hạ trong vụ TLLNG và vụ Watergate dẫn đến việc hàng loạt quan chức cao cấp của chính phủ Mỹ bị đưa ra toà: Mitchell, Haldeman, Ehrlichman bị kết án từ 30 tháng đến 8 năm tù giam. Bản thân Nixon cũng bị cáo buộc nhiều tội: lạm dụng chức quyền, khai man, cản trở công lư... Trước nguy cơ bị Quốc hội luận tội, Nixon xin từ chức (9.8.1974), trở thành tổng thống duy nhất trong lịch sử nước Mỹ làm như vậy. 

Không ai hiểu con hơn cha. Cụ Harry Ellsberg nhận xét về con trai của ḿnh trong một cuộc phỏng vấn của báo Detroit News: “Daniel đă từ bỏ tất cả để dâng hiến đời ḿnh cho việc chấm dứt cuộc tàn sát điên khùng ấy (chỉ chiến tranh của Mỹ ở Việt Nam)... Anh ấy đă trao tài liệu (của Lầu Năm Góc) cho báo chí và chính phủ đă buộc tội anh ấy... thế là anh ấy đă có thể cứu được mạng sống của một số thanh niên (Mỹ) (chính phủ) gửi sang (chiến trường Việt Nam)” ( Daniel gave up everything to devote himself to ending that foolish slaughter … If he did give them that report, and if the government accuses him of some crime … well, he might be saving some boys they’d have sent there otherwise )  (21). 

08

 Hơn 3 thập niên sau, tháng 12.2006, Dan được tặng Giải thưởng Right Livehood v́ đă “đặt Hoà b́nh và Sự thật lên trước hết, bất chấp nguy hiểm đáng kể cho bản thân, dâng hiến đời ḿnh cho phong trào giải thoát thế giới khỏi nguy cơ chiến tranh hạt nhân” ( for putting Peace and Truth first, at considerable personal risk, and dedicating his life to a movement to free the world from the risk of nuclear war ).

Những người Việt Nam yêu chuộng Độc lập và Hoà b́nh không bao giờ quên vụ tiết lộ TLLNG của Dan, cũng như họ luôn nhớ ngọn lửa tự thiêu Norman Morrison, Toà án quốc tế Bertrand Russell, hoạt động phản chiến của Martin Luther King Jr... Trong dịp trở lại Việt Nam tháng 3.2006, Dan được trao kỷ niệm chương “V́ hoà b́nh và hữu nghị giữa các dân tộc” . 

Cước chú :

(1) Dan sinh ngày 7.4.1931 tại Detroit, bang Michigan, Mỹ.

(2) Robert S. McNamara, In Retrospect - The Tragedy and Lessons of Vietnam, Nxb Times Books, New York, 1995, tr. 280.

(3), (4), (5), (6), (12), (13), (14), (15), (16), (17), (18), (19), (20), (21) Daniel Ellsberg, Secrets: A Memoir of Vietnam and the Pentagon Papers, Nxb Penguin Books, New York, 2003, tr. 198, 370, 289, 276, 432, 423, 426, 394, 391, 408, 457, 398.

(7) Michael Maclear, Vietnam: The Ten Thousand Day War, Nxb Thames Methuen, London, 1984, tr. 410.

(8) Richard Nixon, Mémoires (bản dịch tiếng Pháp), Nxb Stanké, Paris, 1987, tr. 372.

(9) The Pentagon Papers as published by The New York Times, Nxb Bantam Books, New York, 1971.

(10) The Pentagon Papers - The Defense Department History of United States Decisionmaking on Vietnam - The Senator Gravel Edition, Nxb Beacon Press, New York,1971.

(11) United States - Vietnam Relations 1945-1967, Study prepared by the Department of Defense, U.S. Government Printing Office, Washington, 1971. 

Cùng một người viết ;

* Mục sư MARTIN LUTHER KING Jr   www.giaodiemonline.com/2008/02/king.htm 

* Đại tướng CURTIS LEMAY                 www.giaodiemonline.com/2008/05/acqui.htm 

 

Tiến sĩ Phan Văn Hoàng, giaodiemonlie.com, ngày 9/3/09

NDVN, ngày 14/3/09



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend