TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

CÁC LỰC LƯỢNG VŨ TRANG TIỀN THÂN CỦA QDNDVN


Tại Nam Kỳ, đội tự vệ công nông đầu tiên ra đời, mở đầu phong trào cách mạng trên cả nước là đội tự vệ công nhân đồn điền cao-su Phú Riềng (Biên Ḥa) do chi bộ Đảng Cộng sản đồn điền Phú Riềng tổ chức và lănh đạo gọi là Thanh niên xích vệ. Đội gồm 40 thanh niên công nhân do Đảng viên Trần Tử B́nh làm đội trưởng. Cuộc đấu tranh của đội sáng 30-1-1930 với tên chủ nhất Xu-ma-nhắc thắng lợi đă mở màn cho cuộc băi công của toàn bộ công nhân đồn điền và cuộc biểu t́nh của hơn 5.000 người; Chi bộ Phú Riềng đă chọn ra những đảng viên và quần chúng trung kiên thành lập các đội Xích vệ để bảo vệ công nhân. Cuộc biểu t́nh vũ trang đă dần mang tính chất của cuộc nổi dậy giành quyền làm chủ. Mặc dù thực dân Pháp huy động 20 xe chở 300 lính lê dương và 500 lính khố đỏ do Thống xứ Nam Kỳ và Chánh mật thám Đông Dương trực tiếp chỉ huy đàn áp công nhân, nhưng cuộc băi công của công nhân đồn điền Phú Riềng do Đảng tổ chức và lănh đạo, có đội tự vệ công nhân hỗ trợ, đă giành thắng lợi. Tiếng vang "Phú Riềng đỏ" nhanh chóng lan ra cả nước. Phong trào đấu tranh của quần chúng lao động Nam Kỳ dấy lên mạnh mẽ; các đội tự vệ công nông ở các tỉnh Nam Kỳ bắt đầu xuất hiện, được tổ chức, lănh đạo, xây dựng dần tiến tới cuộc khởi nghĩa Nam Kỳ năm 1940 - 1941.

Tại Trung Kỳ, phong trào cách mạng do Xứ ủy phát động đă bùng lên và phát triển mạnh mẽ ở hai tỉnh Nghệ An, Hà Tĩnh. Các đội Tự vệ đỏ ra đời trong phong trào đấu tranh cách mạng ở đây đă trở thành những tổ chức bán quân sự điển h́nh của quần chúng trên cả nước. Khi cuộc đấu tranh của quần chúng lên đến đỉnh cao là "Xô viết Nghệ-Tĩnh" th́ nó trở thành tổ chức vũ trang ban đầu, theo h́nh thức của "Hồng quân công nông" và trở thành công cụ chuyên chính của chính quyền cách mạng, và nó đă hoàn thành sứ mệnh là vai tṛ ṇng cốt cho quần chúng đấu tranh chống địch khủng bố.

Các cuộc đấu tranh - khởi nghĩa: Phú Riềng, Nghệ Tĩnh và Nam Kỳ tuy cuối cùng đều bị thực dân Pháp khủng bố tàn bạo, nhưng trên cơ sở những đội tự vệ công nông h́nh thành và phát triển trong phong trào cách mạng 1930 - 1931, Đại hội lần thứ nhất của Đảng (tháng 3-1935) đă tổng kết những kinh nghiệm về tổ chức, lănh đạo và hoạt động, từ đó đề ra nguyên tắc xây dựng và hoạt động của đội tự vệ. Đây là quan điểm quân sự đầu tiên nhưng rất cơ bản của Đảng ta - Quan điểm về vũ trang nhân dân, xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng kiểu mới của Việt Nam. Những kinh nghiệm từ các đội tự vệ công nông đầu tiên nói trên, được kế thừa và vận dụng sáng tạo trong xây dựng các đội du kích và tự vệ chiến đấu làm ṇng cốt cho toàn dân đấu tranh chống thực dân, phong kiến, xây dựng và phát triển các căn cứ, các chiến khu của cuộc cách mạng ở giai đoạn tiếp theo.

Đội du kích Bắc Sơn được thành lập ngày 14 tháng 2 năm 1941 theo Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 7. Lễ thành lập được tổ chức tại khu rừng Khuổi Nọi, xă Vũ Lễ, huyện Bắc Sơn, tỉnh Lạng Sơn. Đội gồm 32 người thuộc các dân tộc Kinh, Tày, Nùng, Dao; được biên chế thành 3 tiểu đội; do đồng chí Lương Văn Tri làm chỉ huy trưởng. Đội viên là những đảng viên và quần chúng hăng hái đă từng tham gia cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn trước đó và một số đảng viên được cử từ miền xuôi lên. Như vậy, thực chất Đội du kích Bắc Sơn ra đời từ cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn do Trung ương Đảng trực tiếp ra quyết định thành lập. Tại lễ thành lập, đồng chí Hoàng Văn Thụ, Ủy viên Trung ương đă thay mặt Trung ương Đảng giao nhiệm vụ cho Đội du kích Bắc Sơn. Đội trưởng Lương Văn Tri đọc 5 lời thề danh dự nói lên ḷng trung thành với Đảng, với Tổ quốc và nhân dân, tinh thần chiến đấu hy sinh, kiên quyết tiêu diệt quân thù, hết ḷng phục vụ nhân dân.

Trải qua một quá tŕnh xây dựng và chiến đấu rất khó khăn gian khổ, được Đảng trực tiếp lănh đạo, được nhân dân Bắc Sơn đùm bọc và nuôi dưỡng, Đội du kích Bắc Sơn đă tồn tại và phát triển. Trên cơ sở Đội du kích Bắc Sơn đă được rèn luyện, thử thách trong đấu tranh cách mạng, Trung ương Đảng quyết định phát triển thành Cứu quốc quân để làm lực lượng ṇng cốt xây dựng căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn - Vơ Nhai và làm vốn quân sự cho việc xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của Đảng sau này. 

Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (ở Pác Bó, Hà Quảng, Cao Bằng từ ngày 10 đến 19-5-1941) do lănh tụ Nguyễn Ái Quốc triệu tập và chủ tŕ. Hội nghị đă quyết định chuyển hướng chiến lược cách mạng, từ đấu tranh chính trị tiến lên đấu tranh vũ trang và chuyển h́nh thức tổ chức xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng làm ṇng cốt cho khởi nghĩa vũ trang trong cả nước giành chính quyền về tay nhân dân; Quyết định thành lập Mặt trận Việt Minh. Theo Nghị quyết của Hội nghị Trung ương lần thứ 8, Đội du kích Bắc Sơn đă vinh dự được đổi tên thành Đội Cứu quốc quân Bắc Sơn. Đây là Trung đội Cứu quốc quân 1, ra đời ngày 1-5-1941, do các đồng chí: Phùng Chí Kiên, Ủy viên Trung ương Đảng làm chỉ huy trưởng, Lương Văn Tri làm chính trị viên.  Trung đội Cứu quốc quân 1 đă hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ bảo vệ và đưa đón cán bộ Trung ương, vũ trang tuyên truyền gây cơ sở cách mạng trong quần chúng. Song v́ quân địch đàn áp quá quyết liệt và nham hiểm, lực lượng lại quá chênh lệch nên trung đội bị tổn thất nặng nề, đồng chí Phùng Chí Kiên và một số người đă hy sinh.

Dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Hoàng Quốc Việt, Ủy viên Trung ương Đảng, ngày 15-9-1941, tại khu rừng Khuôn Mánh, thôn Ngọc Mỹ, xă Tràng Xá, huyện Vơ Nhai, trung đội Cứu quốc quân 2 được thành lập. Trung đội gồm 47 người, có 3 nữ, biên chế thành 5 tiểu đội. Cứu quốc quân 2 là đơn vị vũ trang tập trung ở căn cứ địa cách mạng Bắc Sơn - Vơ Nhai, đặt dưới sự lănh đạo trực tiếp của Ban Thường vụ Trung ương Đảng. Vừa tích cực hoạt động cách mạng, vừa phát triển xây dựng lực lượng, đến cuối năm 1941, trung đội Cứu quốc quân 2 đă lên đến 70 người, biên chế thành bảy tiểu đội.

Từ tháng 9-1941 đến tháng 3-1942, vừa xây dựng lực lượng vừa hoạt động, Cứu quốc quân 2 đă phát động chiến tranh du kích và tác chiến trong điều kiện vô cùng khó khăn. Cán bộ, chiến sĩ đă chiến đấu kiên cường, bất khuất, tự lực cánh sinh, vượt qua gian khổ thiếu thốn, đánh tiêu hao, diệt và làm tan ră một bộ phận quân địch ở Vơ Nhai. Thực tiễn sáu tháng hoạt động của trung đội Cứu quốc quân 2 đă mở đầu một h́nh thức đấu tranh mới của cách mạng Việt Nam hồi đó là xuất hiện chiến tranh du kích.

Tháng 10-1943, khi các đội Bắc tiến của Cứu quốc quân 2 lần lượt gặp các đội xung phong Nam tiến th́ chỉ thị của đồng chí Nguyễn Ái Quốc về việc nối thông liên lạc giữa hai khu căn cứ cách mạng Cao Bằng và Bắc Sơn - Vơ Nhai đă được thực hiện, đánh dấu sự h́nh thành chiến khu Cao - Bắc - Lạng, tạo thuận lợi cho sự ra đời của Khu giải phóng Việt Bắc sau này.

Ngày 25 tháng 2 năm 1944, tại khu rừng Khuổi Kịch, châu Sơn Dương, Tuyên Quang, Trung đội Cứu quốc quân 3 được thành lập. Đồng chí Hoàng Quốc Việt thay mặt Trung ương Đảng công nhận, trao nhiệm vụ, trao lá cờ đỏ sao vàng cho trung đội. Trung đội gồm 30 người, do ba đồng chí Triệu Khánh Phương làm trung đội trưởng, Phương Cương và Chu Phóng làm trung đội phó.

Như vậy, từ trung đội Cứu quốc quân 2, đến đây đă phát triển thành hai trung đội (2 và 3) với hàng trăm đội viên, hoạt động trên một địa bàn rộng lớn thuộc các huyện: Vơ Nhai, Đ́nh Cả, Đại Từ, Định Hóa, Phú Lương (Thái Nguyên), Bắc Sơn, B́nh Gia, Tràng Định (Lạng Sơn), Yên Thế, Hữu Lũng (Bắc Giang), Sơn Dương, Chiêm Hóa (Tuyên Quang) và Chợ Đồn (Bắc Cạn). Quá tŕnh hoạt động đă sử dụng nhiều h́nh thức đấu tranh, kết hợp đấu tranh quân sự, chính trị và binh vận, góp phần tiêu hao, tiêu diệt nhiều sinh lực địch; đồng thời tích cực vận động quần chúng, mở rộng căn cứ địa, tạo điều kiện cho chiến tranh du kích phát triển.

Đội du kích Ba Tơ và cuộc Khởi nghĩa Ba Tơ. Từ sự phát triển của phong trào quần chúng cách mạng, sau khi bàn bạc, thống nhất kế hoạch đánh chiếm đồn địch, kế hoạch khởi nghĩa, ngày 11-3-1945, Tỉnh ủy lâm thời Quảng Ngăi quyết định thành lập đội vơ trang xung kích, gồm 17 người tuyển chọn từ các tù chính trị ở căng an trí Ba Tơ; đồng thời chỉ định đồng chí Phạm Kiệt làm chỉ huy trưởng, đồng chí Nguyễn Đôn làm chính trị viên. Vũ khí trang bị phần lớn là gươm, giáo và bảy khẩu súng.

Ngay buổi tối hôm đó, đội du kích đă đột nhập Nha Kiểm lư, nhanh chóng thu toàn bộ súng đạn, hồ sơ và bắt tên Bùi Danh Ngũ, Tri châu Ba Tơ và một số binh lính; rồi dùng vũ khí thu được, có sự hỗ trợ của đông đảo quần chúng, đội lập tức tiến công đồn Ba Tơ thắng lợi. Sáng 12-3-1945, trong không khí hào hứng và trang nghiêm của cuộc mít-tinh mừng thắng lợi của cuộc khởi nghĩa, Đội du kích Ba Tơ chính thức ra mắt trước quần chúng nhân dân. Đây là đội vũ trang tập trung đầu tiên của nhân dân Quảng Ngăi do Đảng trực tiếp tổ chức và lănh đạo.

Giữa tháng 6-1945, Tỉnh ủy lâm thời quyết định thành lập Ban quân sự đồng thời là Ban chỉ huy Đội du kích Ba Tơ. Đồng chí Nguyễn Chánh được chỉ định làm Trưởng ban, hai đồng chí Phạm Kiệt và Nguyễn Đôn làm Phó ban. Du kích Ba Tơ là đội vũ trang tập trung đầu tiên ở Nam Trung Bộ không chỉ kịp thời đáp ứng yêu cầu phát triển của phong trào cách mạng ở tỉnh Quảng Ngăi, mà c̣n có tác dụng mạnh mẽ, góp phần tích cực vào việc thúc đẩy phong trào đấu tranh chống phát-xít Nhật, cứu nước của nhân dân các tỉnh Nam Trung Bộ.

Tại Nam Kỳ. Sau khi cuộc Khởi nghĩa Nam Kỳ (nổ ra tháng 11-1940) thất bại, thực dân Pháp đàn áp khốc liệt, các thành viên của tổ chức cộng sản c̣n sống sót tạm lánh về các vùng sâu hoặc dạt lên các đồn điền cao-su miền Đông để bảo toàn lực lượng. Đến 1943, phong trào cách mạng bắt đầu được khôi phục. Xứ ủy Nam Kỳ chủ trương tổ chức lực lượng Thanh niên Tiền phong hoạt động hợp pháp để ngụy trang, che giấu cho các lực lượng Thanh niên Cứu quốc và các Hội cứu quốc hoạt động, tiến tới Tổng khởi nghĩa giành chính quyền trong Cách mạng Tháng 8-1945.

Một tháng sau đó, núp bóng quân Anh, Ấn - đại diện quân Đồng minh vào giải giáp quân đội Nhật bại trận, thực dân Pháp nổ súng tái xâm lược Nam Bộ. Dưới sự lănh đạo của Xứ ủy Nam Bộ, toàn dân Nam Bộ đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược. Nhưng ở những ngày đầu Nam Bộ kháng chiến, lực lượng vũ trang ở đây khá phức tạp:

- UBND Nam Bộ và UBND ở nhiều tỉnh cải tổ các đơn vị Bảo an binh thành lực lượng Cộng ḥa vệ binh, đồng thời thu nhận thêm nhiều thanh niên, công nhân, học sinh... vào, nhưng vẫn sử dụng phần lớn các sĩ quan cũ của Pháp và Nhật để chỉ huy các đơn vị Cộng ḥa vệ binh này.

- Tổ chức vũ trang B́nh Xuyên của lớp dân nghèo thành thị, ít nhiều bị chế độ cũ lưu manh hóa, đă sử dụng địa bàn hiểm hóc của ấp B́nh Xuyên, xă Chánh Hưng ngoại ô Sài G̣n làm căn cứ chống lại bọn thống trị. Sau Tổng khởi nghĩa Tháng 8-1945, các đơn vị B́nh Xuyên được giữ nguyên tổ chức và trở thành một trong những đơn vị vũ trang chống thực dân Pháp ở thời kỳ đầu kháng chiến.

- Ngoài ra, một số đơn vị ngụy quân do Nhật tổ chức từ trước, đă tuyển thêm người và tự phong là "Sư đoàn" như: "Đệ nhị sư đoàn" của Anh Tương, "Đệ tam sư đoàn" của Nguyễn Ḥa Hiệp, "Đệ tứ sư đoàn" của Úy Vệ B́nh, các "sư đoàn" toàn những người ngoài Đảng. Đến khi quân Pháp đánh mạnh th́ những "sư đoàn" này tự tan ră. Một số anh em xuất thân từ công nông, được giác ngộ th́ đi theo cách mạng, c̣n nhiều toán trở thành thổ phỉ, quay lại sách nhiễu, cướp bóc nhân dân, một số quay về đầu hàng quân Pháp.

- Nam Bộ lại có nhiều tôn giáo, trong đó đạo Cao Đài và Ḥa Hảo lại có lực lượng vũ trang riêng. Bọn địa chủ, tư sản phản động dùng lực lượng này để khống chế quần chúng và tranh giành ảnh hưởng với Đảng Cộng sản.

Ngày đầu nổ súng kháng chiến, Đảng Cộng sản nắm LLVT của Tổng công đoàn Nam Bộ, đó là các đội vơ trang của công nhân. Riêng ở Sài G̣n có hơn 300 đội xung phong với 6.000 đoàn viên công đoàn được huấn luyện quân sự, trong đó có khoảng 600 tự vệ tập trung. Tại các tỉnh, cấp ủy và chính quyền đều tổ chức các đội tự vệ và du kích chiến đấu. Một số nơi đă tổ chức các đơn vị vũ trang tập trung với quy mô từ một trung đội đến một đại đội. Những đơn vị này hoạt động rất tích cực, chiến đấu dũng cảm và đều là những đơn vị tiền thân của các chi đội chủ lực sau này, lúc đó người dân thường lấy tên của người chỉ huy để gọi thay cho phiên hiệu đơn vị đó như: Ở Hóc Môn, Đức Ḥa có "Bộ đội Tô Kư", tiền thân của  Chi đội 12. Biên Ḥa có "Bộ đội Huỳnh Văn Nghệ, Lê Văn Ngọc, Đinh Quang Ân", tiền thân của Chi đội 10. Thủ Dầu Một có "Bộ đội Huỳnh Kim Trương, Năm Thi, Lê Đức Anh", tiền thân của  Chi đội 1. Gia Định có "Bộ đội ông Dung, Trần Thắng Minh, Đào Sơn Tây", tiền thân của  Chi đội 6.  Chợ Lớn có "Bộ đội Huỳnh Văn Một", tiền thân của Chi đội 15. Tân An có "Bộ đội Trần Văn Trà", tiền thân của  Chi đội 14, v.v.

Sát cánh chiến đấu bên cạnh các lực lượng nói trên c̣n có lực lượng Quốc vệ đội  và Quốc gia tự vệ cuộc, tiền thân của lực lượng Công an nhân dân.

Đến cuối 1945, Bác Hồ cử ông Nguyễn B́nh vào để dần thống nhất các lực lượng vũ trang cách mạng của Nam Bộ. Từ giữa năm 1948, từ 25 chi đội Vệ quốc đoàn này, đă lần lượt ra đời 10  trung đoàn chủ lực của Quân đội nhân dân Việt Nam trên địa bàn Nam Bộ.

Trở lại địa bàn Bắc Kỳ: Tháng 10-1944, tại châu Hà Quảng, Cao Bằng, Liên tỉnh ủy Cao - Bắc - Lạng tổ chức hội nghị để định ngày khởi nghĩa giành chính quyền. Bác Hồ đă đến dự hội nghị và Người chỉ thị hoăn cuộc khởi nghĩa v́ thời cơ chưa chín muồi. Quyết định đúng đắn, kịp thời của Bác đă tránh cho lực lượng vũ trang và phong trào cách mạng Cao - Bắc - Lạng những tổn thất lớn. Để đáp ứng với phương thức đấu tranh mới thích hợp "từ h́nh thức chính trị tiến lên h́nh thức quân sự", tháng 12-1944, Bác Hồ viết chỉ thị thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân. Điểm đầu tiên trong chỉ thị, Bác nêu rơ: "Tên, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, nghĩa là chính trị trọng hơn quân sự. Nó là đội tuyên truyền v́ muốn hành động có kết quả th́ về quân sự, nguyên tắc chính là nguyên tắc tập trung lực lượng, cho nên, theo chỉ thị mới của Đoàn thể, sẽ chọn lọc trong hàng ngũ những đội du kích Cao - Bắc - Lạng số cán bộ và đội viên kiên quyết, hăng hái nhất và sẽ tập trung phần lớn vũ khí để lập ra đội chủ lực...". Ngoài nội dung ba điểm ghi trong chỉ thị, khi giao nhiệm vụ tổ chức đội cho đồng chí Vơ Nguyên Giáp, Bác c̣n căn dặn: "Phải dựa vào dân, dựa chắc vào dân th́ kẻ địch không thể nào tiêu diệt được. Tổ chức của đội phải lấy chi bộ Đảng làm hạt nhân lănh đạo. Trong ṿng một tháng phải có hoạt động để gây tin tưởng cho các chiến sĩ và gây truyền thống hoạt động tích cực nhanh chóng cho bộ đội".

Thực hiện chỉ thị trên, 17 giờ ngày 22-12-1944, đồng chí Vơ Nguyên Giáp đă làm lễ thành lập Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân tại khu rừng giữa hai tổng Hoàng Hoa Thám và Trần Hưng Đạo thuộc châu Nguyên B́nh, tỉnh Cao Bằng. Buổi đầu thành lập, toàn đội có 34 người, biên chế thành ba tiểu đội, do đồng chí Hoàng Sâm làm Đội trưởng, đồng chí Xích Thắng làm Chính trị viên. Chi bộ Đảng, hạt nhân lănh đạo của Đội có bốn đảng viên, do đồng chí Xích Thắng làm Thư kư chi bộ.

Đến 25 và 26-12-1944, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân đă lần lượt tiến đánh hai đồn địch là Phai Khắt và Nà Ngần, thực hiện "Ra quân đánh thắng trận đầu" đúng như chỉ thị của Bác Hồ, và sau đó, ngày 22 tháng 12 hằng năm trở thành ngày truyền thống vẻ vang của đội quân ta.

Từ tháng 3 đến tháng 5-1945, t́nh h́nh cách mạng thế giới và Đông Dương chuyển biến ngày càng có lợi cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc của nhân dân ta. Hội nghị Ban Thường vụ Trung ương Đảng (từ ngày 9 đến 12-3-1945) chủ trương đẩy mạnh xây dựng lực lượng vũ trang ở các chiến khu, căn cứ địa cách mạng trong cả nước. Lúc này, song song với việc xây dựng các trung đội Cứu quốc quân, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Đội du kích Ba Tơ, phong trào xây dựng và phát triển các đội du kích ở hai chiến khu Quang Trung và Trần Hưng Đạo cũng được tiến hành khẩn trương.

Từ 15 đến 20-4-1945, Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ tại Hiệp Ḥa (Bắc Giang). Hội nghị xác định: "T́nh thế đă đặt nhiệm vụ quân sự lên trên tất cả các nhiệm vụ quan trọng và cần kíp trong lúc này. Chúng ta phải tích cực phát triển chiến tranh du kích, gây dựng căn cứ kháng Nhật để chuẩn bị tổng khởi nghĩa cho kịp thời cơ". (1)

Hội nghị xác định cả nước có bảy chiến khu, riêng Bắc Kỳ và Thanh Hóa có bốn chiến khu. Địa bàn ba tỉnh Ḥa B́nh, Ninh B́nh, Thanh Hóa nay gọi là Chiến khu Quang Trung. Đồng chí Văn Tiến Dũng, Ủy viên Thường trực của Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ được phân công trực tiếp chỉ đạo việc xây dựng lực lượng vũ trang, củng cố và phát triển Chiến khu Quang Trung. Đồng chí Lê Thanh Nghị, Xứ ủy viên, Ủy viên Thường vụ Ủy ban quân sự cách mạng Bắc Kỳ được phân công trực tiếp chỉ đạo việc thành lập Chiến khu Trần Hưng Đạo và xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng của chiến khu (c̣n gọi là Chiến khu Đông Triều hay Đệ tứ chiến khu, nằm trên địa bàn một số huyện thuộc năm tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Kiến An, Hải Pḥng và Hải Ninh).

Thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng, từ những đội du kích, tự vệ hoạt động nhỏ lẻ, sau khi Chiến khu Quang Trung được thành lập, ta đă khẩn trương xây dựng phát triển thành các trung đội du kích chiến đấu tập trung ở các  căn cứ chiến đấu vũ trang: Quỳnh Lưu (Ninh B́nh), Tu Lư, Hiền Lương, Diềm, Cao Phong, Thạch Yên, Mường Khói (Ḥa B́nh); Bái Sơn, Cổ Tế, Cẩm Bào, Hồ Cỗ, Yên Lộ, Đằng Xá, Đằng Trung, Đa Lộc, Ḥa Chúng (Thanh Hóa) và nhiều trung, tiểu đội du kích vừa sản xuất vừa sẵn sàng chiến đấu tại các địa phương. Đây là bước chuẩn  bị lực lượng quân sự quan trọng cho Tổng khởi nghĩa Tháng Tám 1945.

Ngày 16-7-1945, ngay sau khi lập thành tích đánh thắng bốn đồn địch là: Đông Triều, Chí Linh, Mạo Khê và Tràng Bạch, tại cuộc mít-tinh tổ chức ở sân đ́nh Hổ Lao, đồng chí Trần Cung thay mặt ban lănh đạo khởi nghĩa tuyên bố thành lập Chiến khu kháng chiến mang tên Trần Hưng Đạo. Từ đây, lực lượng vũ trang chiến khu được mang tên Du kích cách mạng quân. Đồng chí Nguyễn B́nh, đại diện Ủy ban quân sự cách mạng đă long trọng đọc bảy điều kỷ luật của "Du kích cách mạng quân", khẳng định "Mọi người phải tuân theo kỷ luật sắt của cách mạng".

Giải phóng quân Việt Nam ra đời. Để tiến tới chuẩn bị tổng khởi nghĩa, từ 15 đến 20-4-1945, Ban Thường vụ Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị quân sự cách mạng Bắc Kỳ lần thứ nhất tại Hiệp Ḥa (Bắc Giang) do Tổng Bí thư Trường-Chinh chủ tŕ. Hội nghị tập trung giải quyết cụ thể những vấn đề mà  Hội nghị Thường vụ Trung ương tháng 3-1945 nêu ra và bàn những việc cần kíp chuẩn bị cho tổng khởi nghĩa. Về nhiệm vụ xây dựng các lực lượng vũ trang, Hội nghị quyết định thống nhất Cứu quốc quân và Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân cùng các tổ chức vũ trang cách mạng khác thành Việt Nam giải phóng quân để cùng nhân dân tiến hành khởi nghĩa từng phần, tiến tới tổng khởi nghĩa.

Ngày 15 tháng 5 năm 1945, Đội Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân và Cứu quốc quân gặp nhau ở băi Thàn Mát thuộc xă Định Biên, huyện Định Hóa, tỉnh Thái Nguyên. Nhận chỉ thị của Bác Hồ, đồng chí Vơ Nguyên Giáp tuyên bố thống nhất các đơn vị: Việt Nam tuyên truyền giải phóng quân, Cứu quốc quân cùng các lực lượng vũ trang cách mạng tập trung của cả nước thành Việt Nam giải phóng quân, đội quân chủ lực của cách mạng do Đảng Cộng sản lănh đạo.

Việt Nam giải phóng quân là bộ đội chủ lực của cả nước, có chỉ huy thống nhất và hệ thống tổ chức chặt chẽ.

Ngay sau khi  được tin phát-xít Nhật đầu hàng quân Đồng minh, đồng chí Hồ Chí Minh chỉ thị: "Thời cơ thuận lợi đă tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dăy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập". Từ 13 đến 15-8-1945, Trung ương Đảng triệu tập Hội nghị đại biểu toàn quốc của Đảng. Hội nghị đề ra nhiệm vụ của cách mạng cả nước và nhiệm vụ của lực lượng vũ trang; thành lập Ủy ban khởi nghĩa để thống nhất chỉ huy cuộc chiến đấu.

Đến 13 tháng 8, Ủy ban khởi nghĩa đă ra Quân lệnh số 1, phát lệnh khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước.

Ngày 16-8-1945, Quốc dân Đại hội được tổ chức ở Tân Trào, thảo luận, thống nhất với chủ trương tổng khởi nghĩa của Đảng: Nổi dậy giành chính quyền từ tay Nhật và bọn bù nh́n tay sai, trước khi quân Đồng Minh vào Đông Dương. Đại hội quy định Quốc kỳ, Quốc ca, thông qua 10 chính sách lớn của Mặt trận Việt Minh, cử ra Ủy ban Dân tộc giải phóng tức Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng ḥa do Hồ Chí Minh làm Chủ tịch. Đại hội khẳng định một trong những nhiệm vụ trọng tâm của cả dân tộc lúc này là phải khẩn trương vũ trang toàn dân, phát triển Quân giải phóng Việt Nam. Đại hội kêu gọi Giải phóng quân cùng các lực lượng vũ trang các địa phương đưa cuộc cách mạng giải phóng đất nước đến toàn thắng.

Thực hiện mệnh lệnh Tổng khởi nghĩa của Trung ương Đảng, Tổng bộ Việt Minh và Chủ tịch Hồ Chí Minh, quân và dân cả nước đă nhất loạt nổi dậy giành chính quyền với ư chí quật cường và tinh thần quả cảm. Giải phóng quân Việt Nam và các lực lượng vũ trang cách mạng các địa phương đă hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ được giao phó, đóng góp xứng đáng vào cuộc Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng 8-1945 trên phạm vi cả nước giành thắng lợi to lớn.

----------------

(*) Xem báo Nhân Dân cuối tuần số 48 ra ngày 28-11-2004.

(1) Văn kiện quân sự của Đảng. Tập 1, Sđd, trang 283.

 KHUẤT BIÊN H̉A (Biên soạn

Trích trang nhà Nhân Dân ngày 3/12/04

ĐDTB lên mạng ngày 3/12/04 (48 ) (50)



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend