TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN: NDVN


 

Flag of CambodiaĐược đăng ảnhFlag 

 

  

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

 

 

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

Nguyen TT Vo Van Kiet gop y cho du an Dung Quat

 

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

 

***********

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

 Tin Thế Giới & Việt Nam

 

 

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm 

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

 Những Siêu Điệp Viên LLVT 

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

*********** 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

 

                              Trang Nối Kết      

 

 

Websites trong nước

 

 

 
 
 
 
 
 
 
 
 
 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…...C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

 

 

 

    

  

TUYÊN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN

 

 

 

Tổng Bí Thư Lê Duẩn

Tấm Gương Cống Hiến Trọn Đời Cho CáchMạng Việt Nam

 

 

(ĐCSVN) - Tại lễ kỷ niệm 100 năm Ngày sinh của Cố Tổng Bí thư Lê Duẩn(07.04.1907/07.04.2007), Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh đă có bài phát biểu quantrọng ôn lại thân thế, sự nghiệp và những đóng góp to lớn của đồng chí Lê Duẩnđối với cách mạng Việt Nam. Báo điện tử ĐCSVN trân trọng giới thiệu toàn vănbài phát biểu quan trọng này.

 

Thưa các đồng chí lănh đạo Đảng, Nhànước và Mặt trận Tổ quốc ViệtNam,

Thưa các đồng chí lăo thành cách mạng và Mẹ Việt NamAnh hùng,

Thưa đồng bào và chiến sĩ cả nước,

Thưa các vị khách quư,

Thưa các đồng chí và các bạn,

 

Ông Lê Duẩn

Tổng Bí thư Lê Duẩn

 

Hôm nay, chúng ta họp mặt tại đây để kỷ niệm 100 nămNgày sinh đồng chí Lê Duẩn (/07/4/1907 - 07/4/2007), nguyên Tổng Bí thư BanChấp hành Trưng ương Đảng Cộng sản Việt Nam, người cộng sản trung kiên, ngườihọc tṛ lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà lănh đạo kiệt xuất của cách mạngViệt Nam.

 

Với 79 tuổi đời, gần 60 năm hoạt động cách mạng, đồngchí Lê Duẩn đă nêu tấm gương sáng của một người chiến sĩ cách mạng tiên phong,cống hiến trọn cuộc đời cho sự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất Tổ quốc vàxây dựng chủ nghĩa xă hội.

 

Tên tuổi và sự nghiệp của đồng chí Lê Duẩn gắn liềnvới những thắng lợi vẻ vang của cách mạng nước ta trong thế kỷ XX.

 

Thưa cácđồng chí và các bạn,

 

Đồng chí Lê Duẩn tên thật là Lê Văn Nhuận, sinh ngày07-4-1907 trong một gia đ́nh lao động có truyền thống yêu nước tại làng BíchLa, xă Triệu Đông, huyện Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Sớm giác ngộ cách mạng vàtham gia Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên từ năm 1928; năm 1930, đồng chí LêDuẩn là một trong những đảng viên lớp đầu của Đảng Cộng sản Việt Nam do lănh tụNguyễn Aí Quốc sáng lập.

 

Năm 1931 đồng chí là Uỷ viên Ban Tuyên huấn Xứ uỷ BắcKỳ. Cũng trong năm đó, đồng chí bị thực dân Pháp bắt ở Hải Pḥng, kết án 20 nămtù cấm cố và lần lượt bị đầy ải ở các nhà tù Hoả Ḷ, Sơn La và Côn Đảo.

 

Năm 1936, do cuộc đấu tranh của nhân dân ta và thắnglợi của Mặt trận nhân dân ở Pháp, chính quyền thực dân Pháp buộc phải trả tự docho nhiều chiến sĩ cách mạng Việt Nam,trong đó có đồng chí Lê Duẩn. Ra tù, vượt qua sự đe doạ, quản thúc của chínhquyền thực dân, đồng chí lập tức trở lại hoạt động cách mạng, củng cố tổ chứcđảng ở các tỉnh miền Trung và góp phần vào thành công của cuộc vận động dân chủdo Đảng ta lănh đạo trong những năm 1936 - 1939.

 

Năm 1937, đồng chí giữ chức Bí thư Xứ uỷ Trung Kỳ.

 

Năm 1939, đồng chí được bổ sung vào Thường vụ Ban Chấphành Trung ương Đảng.

 

Năm 1940, đồng chí lại bị địch bắt ở Sài G̣n, bị kếtán 10 năm tù và đày đi Côn Đảo lần thứ hai. Cách mạng tháng Tám năm 1945 thànhcông, đồng chí được Đảng và Chính phủ đón về đất liền, tham gia cuộc khángchiến ở Nam Bộ.

 

Năm 1946, ra Hà Nội, đồng chí Lê Duẩn làm việc bêncạnh Chủ tịch Hồ Chí Minh, góp phần cùng Trung ương Đảng chuẩn bị cuộc khángchiến chống thực dân Pháp xâm lược. Cuối năm đó, đồng chí được Chủ tịch Hồ ChíMinh và Trung ương Đảng cử vào lănh đạo cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.

 

Tại Đại hội lần thứ II của Đảng năm 195l, đồng chíđược bầu vào Ban Chấp hành Trung ương và Bộ Chính trị. Từ năm 1946 đếnnăm 1954, với cương vị Bí thư Xứ uỷ, rồi Bí thư Trung ương Cục miền Nam, đồngchí được phân công trực tiếp cùng với tập thể lănh đạo Trung ương Cục tổ chứccuộc kháng chiến ở Nam Bộ, góp phần vào thắng lợi của cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp xâm lược.

 

Từ năm 1954 đến năm 1957, sau khi Hiệp định Giơ-ne-vơđược kư kết, đồng chí Lê Duẩn được Trung ương phân công trở lại miền Nam đểlănh đạo cách mạng. Trong những năm tháng vô cùng khó khăn, với sự khủng bố ácliệt của kẻ thù, sống trong ḷng nhân dân, đồng chí đă kiên tŕ bám trụ, từvùng nông thôn hẻo lánh đến các thành phố để củng cố các cơ sở cách mạng, chuẩnbị cuộc chiến đấu lâu dài chống đế quốc Mỹ xâm lược.

 

Năm 1957, đồng chí được Ban Chấp hành Trung ương Đảngđiều động ra miền Bắc, cử vào Ban Bí thư, chủ tŕ công việc của Ban Bí thư vàlà Phó ban chuẩn bị văn kiện Đại hội III của Đảng.

 

Năm 1960, tại Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chíđược bầu lại và Ban Chấp hành Trung ương vào Bộ Chính trị, giữ chức Bí thư thứnhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

 

Tại Đại hội lần thứ IV Đảng (năm 1976) và lần thứ Vcủa Đảng (năm 1982), đồng chí Lê Duẩn tiếp tục được bầu vào Ban Chấp hành Trungương và Bộ Chính trị, giữ chức Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng.

 

Hoạt động cách mạng trên cả ba miền của Tổ quốc, trảiqua thử thách khắc nghiệt của lao tù đế quốc cũng như chiến tranh ác liệt, luônluôn gắn bó với đồng bào, đồng chí Lê Duẩn đă có những đóng góp to lớn vào sựlănh đạo của Đảng, đưa sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đi từ thắng lợi nàyđến thắng lợi khác.

 

Suốt đời phấn đấu theo chủ nghĩa Mác - Lê-nin và tưtưởng Hồ Chí Minh, cống hiến trọn đời ḿnh cho lư tưởng cộng sản chủ nghĩa, chosự nghiệp giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, v́ tự do, hạnh phúc của nhândân ta, đồng chí Lê Duẩn là hiện thân sinh động của một chiến sĩ cộng sản kiêncường, một nhà lănh đạo kiệt xuất của cách mạng Việt Nam trong thời đại Hồ ChíMinh.

 

Thưa cácđồng chí và các bạn,

 

Trên các cương vị quan trọng của Đảng từ sau khi Đảngra đời và với 26 năm liên tục trên cương vị Bí thư thứ nhất và Tổng Bí thư củaĐảng (1960 - 1986), đồng chí Lê Duẩn không chỉ là một nhà hoạt động chính trịkiên định, mà c̣n là một kiến trúc sư chiến lược của Đảng ta, đồng chí đă cùngvới Bộ Chính trị và Ban Chấp hành Trung ương, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minhvĩ đại, xác định đường lối, chính sách của các cuộc kháng chiến giải phóng dântộc và bảo vệ Tổ quốc, xây dựng khoa học quân sự cách mạng Việt Nam, đánh thắngcác cuộc chiến tranh xâm lược của chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản độngkhác, cổ vũ mạnh mẽ phong trào đấu tranh của nhân dân thế giới chống chủ nghĩađế quốc, chủ nghĩa thực dân giành độc lập, tự do.

 

Năm 1939, tại Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trungương, dưới sự chủ tŕ của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Cừ, đồng chí đă góp phần cùngBan Chấp hành Trung ương xây dựng nghị quyết đề cao nhiệm vụ giải phóng dântộc, đoàn kết toàn dân trong Mặt trận Phản đế Đông Dương, làm cho đường lốicách mạng nước ta trở lại đúng với tinh thần cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh đăthể hiện trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt do Người khởi thảo đầunăm 1930.

 

Năm 195l, Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II họp ở ViệtBắc, tuy không ra dự được nhưng đồng chí đă gửi thư đóng góp những ư kiến quantrọng với Đại hội. Căn cứ vào t́nh h́nh thực tiễn ở miền Nam, đồng chí đă cùngXứ uỷ Nam Bộ đề ra chủ trương tiến hành cách mạng ruộng đất với phương phápthích hợp, đoàn kết rộng răi các lực lượng yêu nước, mở rộng Mặt trận Dân tộcthống nhất, xây dựng, phát triển lực lượng vũ trang ba thứ quân, làm cho khángchiến ở Nam Bộ có bước phát triển rơ rệt và góp phần cùng cả nước giành thắnglợi to lớn trong chiến cuộc Đông Xuân 1953 - 1954.

 

Những năm trở lại hoạt động ở miền Nam sau khi Hiệpđịnh Giơ-ne-vơ được kư kết, vượt qua sự đàn áp khốc liệt của kẻ thù, bám sátthực tế đấu tranh bất khuất của đồng bào và nh́n rơ kẻ thù đă phá bỏ Hiệp địnhđ́nh chiến, đồng chí Lê Duẩn đă sớm suy nghĩ và t́m ṭi đường lối cho cách mạngmiền Nam. Tháng 8-1956, bản Đề cương cách mạng miền Namdo đồng chí khởi thảo đă hoàn thành, góp phần quan trọng và sự ra đời Nghịquyết l5 của Ban Chấp hành Trung ương (năm 1959). Nghị quyết 15 thể hiện sựthống nhất về tư duy chiến lược giữa Trung ương và các cấp lănh đạo ở miền Nam,phản ánh đúng yêu cầu của lịch sử, ư chí, nguyện vọng của nhân dân, mở đườngcho cách mạng miền Nam tiến lên, dẫn đến cao trào ''Đồng khởi'' oanh liệt trongnhững năm 1959 - 1960, chuyển cách mạng miền Nam từ thế giữ ǵn lực lượng sangthế tiến công, mở ra bước ngoặt cho cách mạng miền Nam, góp phần bảo vệ và củngcố miền Bắc xă hội chủ nghĩa.

 

Dưới sự lănh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh, trên cươngvị Phó trưởng ban chuẩn bị Báo cáo chính trị cho Đại hội lần thứ III của Đảng,đồng chí Lê Duẩn đă góp phần quan trọng vào việc h́nh thành đường lối cách mạngcả nước. Đó là đường lối tiến hành đồng thời hai chiến lược cách mạng, cáchmạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam và cách mạng xă hội chủ nghĩa ở miềnBắc; kết hợp chặt chẽ hai chiến lược đó với nhau nhằm một mục tiêu chung làhoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trên cả nước, thực hiện thốngnhất nước nhà. Đường lối đó thể hiện độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xăhội, kết hợp những yêu cầu cơ bản của nhân dân ta với những mục tiêu cách mạngcủa nhân dân thế giới v́ hoà b́nh, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xă hội,do đó đă động viên và tổ chức đến tŕnh độ cao sức mạnh tổng hợp của cả dân tộcvà nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ quư báu của nhân dân các nước xă hội chủ nghĩavà nhân dân các nước đang đấu tranh cho độc lập dân tộc, cho hoà b́nh và tiếnbộ xă hội trên toàn thế giới. Đường lối đó cũng là cơ sở để hoạch định chiếnlược tiến công và sáng tạo ra nghệ thuật biết đánh, biết thắng từng bước kẻ thùxâm lược, tiến lên giành thắng lợi hoàn toàn.

 

Thực tiễn phức tạp của t́nh h́nh quốc tế trong nhữngnăm 60 và trước những thử thách quyết liệt của t́nh h́nh trong nước, trên cươngvị Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương (1960 - 1976), chịu trách nhiệmlănh đạo tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội lần thứ III của Đảng, đồng chí LêDuẩn đă tỏ rơ là một nhà tổ chức tài năng, góp phần to lớn vào việc lănh đạoxây dựng hậu phương miền Bắc vững mạnh, đánh thắng chiến tranh phá hoại bằngkhông quân và hải quân của đế quốc Mỹ, đồng thời chỉ đạo tổ chức cuộc chiến đấucủa quân và dân ta ở tiền tuyến lớn miền Nam, đánh bại các chiến lược chiếntranh của địch, từng bước bẻ găy ư chí xâm lược của chúng.

 

Ngày 02-9- 1969, Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩnh biệt chúngta. Trước đau thương vô hạn và tổn thất lớn lao đó, đồng chí Lê Duẩn đă cùng BộChính trị và Ban Chấp hành Trung ương Đảng kiên định đường lối độc lập, tự chủvà đoàn kết quốc tế, sáng suốt lănh đạo quân và dân ta giữ vững quyết tâm chiếnđấu, thực hiện lời thề với Người, đưa ngọn cờ độc lập - tự do của Chủ tịch HồChí Minh đến đích: giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc, đưa cả nước tiếnlên chủ nghĩa xă hội. Thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước là mộttrong những chiến công chói lọi nhất của dân tộc ta và của loài người trong thếkỷ XX.

 

Đất nước thống nhất, 10 năm trên cương vị Tổng Bí thưcủa Đảng (1976 - 1986), đồng chí Lê Duẩn đă cùng Ban Chấp hành Trung ương vạchra và thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ vững chắc Tổ quốcViệt Nam xă hội chủ nghĩa; đồng thời định ra chiến lược kinh tế trong chặngđường đầu tiên của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xă hội.

 

Lư tưởng và hoài băo suốt đời của đồng chi Lê Duẩn làTổ quốc độc lập và thống nhất, nhân dân có quyền làm chủ đất nước, làng chủ xăhội và làm chủ cuộc sống của ḿnh.

 

Về mặt quốc tế, đồng chí Lê Duẩn đă có những đóng góplớn vào việc xây dựng, củng cố t́nh hữu nghị và đoàn kết giữa nhân dân ta vớinhân dân Lào, Cam-pu-chia và nhân dân các nước xă hội chủ nghĩa anh em; gópphần vào việc bảo vệ sự trong sáng của chủ nghĩa Mác - Lê nin, chống chủ nghĩacơ hội và xét lại, tăng cường t́nh đoàn kết chiến đấu trong phong trào cộngsản, công nhân quốc tế và phong trào giải phóng dân tộc.

 

Đánh giá công lao của đồng chí Lê Duẩn, Đảng ta khẳngđịnh: "Là một nhà mác xít - lêninnít chân chính, đồng chí luôn luôn suynghĩ t́m ṭi, xuất phát từ t́nh h́nh thực tế, phân tích, giải quyết những vấnđề mới do cuộc sống đề ra. Sự sáng suốt của đồng chí thể hiện nổi bật trướcnhững bước ngoặt của lịch sử và những t́nh huống phức tạp'', ''lịch sử nước tamăi măi khẳng định công lao to lớn của đồng chí Lê Duẩn. Tấm gương của đồng chímăi măi tươi sáng''.

 

Thưa cácđồng chí và các bạn,

 

Hai mươi sáu năm liên tục trên cương vị Bí thư thứnhất và Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng ta, dưới ánh sáng của tưtưởng Hồ Chí Minh, đồng chí Lê Duẩn vừa là nhà lănh đạo chính trị kiên định,nhà chiến lược xuất sắc, nhà tổ chức tài năng, vừa là một nhà tư tưởng, một trítuệ lớn của cách mạng Việt Nam đă có những cống hiến xuất sắc về 1ư luận.

 

Đồng chí luôn nắm vững và vận dụng sáng tạo nhữngnguyên lư cơ bản của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư tưởng Hồ Chí Minh vào hoàncảnh Việt Namđể cùng với Đảng ta đề ra đường lối chiến lược đúng đắn, phương pháp cách mạngvà khoa học.

 

Điều ấy được thể hiện ở hàng loạt tác phẩm giàu tínhlư luận, khái quát từ thực tiễn cách mạng hết sức phong phú, có tính đến nhữngbiến đổi phức tạp' của thế giới, của thời đại. Những tư tưởng đớn của đồng chíđóng góp vào việc xác định chính sách mới của Đảng ở Hội nghị Trung ương bầnthứ sáu (năm 1939), vào đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân qua bảnkiến nghị quan trọng với Đại hội bần thứ II của Đảng (năm 195l), vào việc hoạchđịnh con đường đi lên của cách mạng miền Nam qua bản Đề cương cách mạng miềnNam và việc chuẩn bị Nghị quyết 15 của Trung ương (năng 1959), sau này đă đượcbổ sung và phát triển một cách toàn diện trong những năm 60, đầu những năm 70của thế kỷ XX và đă là những đóng góp có ư nghĩa quyết định và sự lănh đạo củaĐảng để đưa cách mạng Việt Nam đến toàn thắng vào mùa Xuân năm 1975.

 

Về chủ nghĩa xă hội và con đường đi lên chủ nghĩa xăhội, đồng chí Lê Duẩn đă ''góp phần làm sáng tỏ nhiều vấn đề lư luận và thựctiễn nhằm xác định và hoàn chỉnh đường lối cách mạng xă hội chủ nghĩa ở nướcta, trong điều kiện một nước nông nghiệp lạc hậu, tiến thẳng lên chủ nghĩa xăhội, bỏ qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa. Giương cao ngọn cờ độc lậpdân tộc và chủ nghĩa xă hội, đồng chí đă kiên tŕ nguyên tắc kết hợp sức mạnhcủa dân tộc với sức mạnh của thời đại, sức mạnh trong nước với sức mạnh quốc tếđể thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược: xây dựng và bảo vệ Tổ quốc''.

 

Là nhà lănh đạo chiến lược của Đảng, đồng chí Lê Duẩnđặc biệt quan tâm đến vấn đề đường lối, phương pháp vào nghệ thuật cách mạng,chiến lược vả sách lược cách mạng, mà điều bao trùm nhất là t́m hiểu và nắmvững những quy luật và những vấn đề có tính quy luật của cách mạng Việt Nam,vận dụng một cách đúng đắn vào thực tiễn, để thực tiễn kiểm nghiệm.

 

Một nét rất nổi bật ở đồng chí Lê Duẩn là phong cáchtư duy độc lập, tự chủ, sáng tạo, luôn trăn trở với những vấn đề mà cuộc sốngđặt ra, luôn suy nghĩ t́m ṭi cái mới.

 

Những đóng góp của đồng chí Lê Duẩn về lư luận trongcách mạng giải phóng dân tộc và cách mạng xă hội chủ nghĩa đă làm phong phúthêm kho tàng lư luận cách mạng Việt Nam.

 

Thưa cácđồng chí và các bạn,

 

Trước những thử thách nghiệt ngă của cuộc đấu tranhcách mạng qua các thời kỳ, đồng chí Lê Duẩn luôn nêu tấm gương về ḷng trungthành vô hạn với Đảng và cách mạng, với lợi ích tối cao của Tổ quốc và nhândân, với lư tưởng cộng sản chủ nghĩa cao cả, luôn kiên định ư chí cách mạngtiến công, một ḷng một dạ phục vụ sự nghiệp độc lập cho dân tộc, tự do và hạnhphúc cho nhân dân.

 

Đồng chí sống một cuộc đời trung thực và giản dị, luôngần gũi đồng bào, đồng chí, với t́nh thương yêu tha thiết và chân thành đối vớimọi người, quan tâm đến ư kiến và nguyện vọng của nhân dân; luôn coi trọng t́nhthương và lẽ phải.

 

Đồng chí c̣n là tấm gương của một chiến sĩ quốc tếtrong sáng, suốt đời noi gương Chủ tịch Hồ Chí Minh, chăm lo góp phầncủng cố và tăng cường đoàn kết quốc tế giữa các lực lượng cách mạng và tiến bộtrên thế giới trong cuộc đấu tranh chung v́ hoà b́nh, độc lập dân tộc, đần chủvà chủ nghĩa xă hội.

 

Thưa cácđồng chí và các bạn,

 

Kỷ niệm 100 năm Ngày sinh đồng chí Lê Duẩn, chúng tatưởng nhớ đến một người học tṛ lỗi lạc của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, một tưduy sáng tạo lớn của cách mạng Việt Nam, người đă đă để lại những dấu ấn sâuđậm trên các chặng đường giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước, đưa cả nướcđi lên chủ nghĩa xă hội.

 

Noi gương đồng chí, toàn Đảng, toàn dân và toàn quânta tăng cường đoàn kết nhất trí, tranh thủ thời cơ, sáng tạo và tiến lên, vượtqua mọi khó khăn, thức thách hoàn thành tốt nhiệm vụ mà Nghị quyết Đại hội lầnthứ X của Đảng đă đề ra, thực hiện có kết quả cuộc vận động ''Học tập và làmtheo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh'', quyết phấn đấu đưa sự nghiệp đổi mới v́dân giàu, nước mạnh, xă hội công bằng, dân chủ, văn minh đến thắng lợi.

 

Đảng Cộngsản Viêt Namquang vinh muôn năm !

Nước Cộnghoà xă hội chủ nghĩa Việt Nammuôn năm !

Chủ tịchHồ Chí Minh vĩ đại sống măi trong sự nghiệp của chúng ta !

 

Xin trân trọng cảm ơn.

 

Tổng Bí Thư:Nông Đức Mạnh

 

Báo Điện Tử ĐCSVN, ngày 6/4/07

NDVN, ngày 17/4/07

 

Đồng chí Lê Duẩn- anh Ba của một thời lửa đạn

Đồng chí Lê Duẩn - nhà lănh đạo kiệtxuất

 

Đồng chí Lê Duẩn báo cáo t́nh h́nh cách mạng miền Nam với Chủ tịch Hồ Chí Minh, năm 1957

TT - Anh Ba là tên gọi thân thươngmà đồng bào và đồng chí cả  nước dành   cho Tổng bí thư Lê Duẩn  -  một trong nhữnghọc tṛ tiêu biểu xuất sắcnhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh là một nhà lănh đạolỗi lạc ,  một nhà  chiến lược sáng tạo, một trí tuệ lớn của cách mạng VN trongthế kỷ 20.

 

 

Nhân kỷ niệm 100 năm ngày sinh của cốTổng bí thư Lê Duẩn, Tuổi Trẻ trích đăng những ḍng hồi ức của các nhà lănhđạo, đồng chí, người thân... từng kề vai sát cánh với cố tổng bí thư trongnhững năm tháng khó khăn nhất của đất nước khi trải qua chiến tranh và nhữngnăm đầu tiên sau ḥa b́nh.

Kỳ1: Nhà lănh đạo xuất sắc

Cuối năm 1949, tôi được cử đi dự hộinghị Xứ ủy Nam bộ mở rộng, tổ chức tại Đồng Tháp Mười. Đây là lần đầu tiên tôitiếp xúc với anh Ba. Tôi có ấn tượng mạnh về anh - một con người hoạt động đầysức sống và tính nguyên tắc. Anh như một nguồn năng lượng lớn luôn bừng tỏa.

Dồn hết tâm lực cho đất nước

Năm 1952, anh Ba được Trung ương gọi raBắc. Năm 1954, sau khi Hiệp định Geneva được kư kết, anh Ba từ Quảng Ngăi trởlại chiến trường Nam bộ. Lần đó, một hội nghị cán bộ chủ chốt mở rộng đủ quân,dân, chính, đảng ở Nam bộ được tổ chức để nghe anh thông báo t́nh h́nh. Hộinghị đón anh với tất cả sự hồ hởi và cả những băn khoăn về hiệp định chờ đượcanh giải đáp. Suốt mấy ngày, hàng trăm vấn đề được đặt ra: cơ sở nào để lấy vĩtuyến 17 làm ranh giới tạm thời? Tại sao theo hiệp định chỉ hai năm sau là tổngtuyển cử mà phải tập kết triệt để cả quân đội và vũ khí? Liệu có chắc địch sẽthi hành hiệp định không? Nếu địch phá hiệp định th́ ta xử lư thế nào?... Chưabao giờ tôi thấy anh Ba phải vất vả đến như vậy mới giải thích hết được nhữngthắc mắc của mọi người.

Mấy năm gắn bó sống chết với chiếntrường Nam bộ sau Hiệp nghị Geneva đă giúp anh Ba tổng kết những kinh nghiệmthực tiễn xương máu, làm tiền đề h́nh thành đường lối đấu tranh của cách mạngmiền Nam mà anh thể hiện trong dự thảo “Đường lối cách mạng VN ở miền Nam”.Trước khi ra Bắc, anh Ba đă đưa những nội dung của tài liệu đó ra bàn bạc, thảoluận cả tháng trời trong lănh đạo Xứ ủy mở rộng. Sau này, tài liệu đó được quengọi là Đề cương cách mạng miền Nam và tư tưởng của nó được thể hiện đầy đủtrong nghị quyết 15 của Trung ương Đảng khóa II.

 

Đồng chí Lê Duẩn thời kỳ làm thư kưcho Công  ty hỏa xa Bắc Kỳ - Hà Nội năm 1927 --     Ảnh tư liệu

Mấy năm sau hiệp định cũng là thời kỳđầy thách thức, nguy hiểm đối với anh Ba. T́nh h́nh hết sức căng thẳng, phứctạp. Lúc đầu anh Ba ở Cà Mau. Tới cuối năm 1955, anh chuyển qua Bến Tre để tiệnlàm việc với các anh ở thường vụ Xứ ủy. Giữa năm 1956, anh quyết định lên SàiG̣n để có thể trực tiếp nắm t́nh h́nh ở đó. Bố trí nơi ăn ở, làm việc và đảmbảo an toàn tuyệt đối cho anh Ba là việc lớn. Chúng tôi rất lo bởi sự sống, cáichết lúc bấy giờ chỉ cách nhau gang tấc. Khi anh an toàn ra Hà Nội (vào giữanăm 1957) tất cả chúng tôi mới thật sự thấy nhẹ nhơm, mặc dù biết vắng anh côngviệc sẽ nặng nề hơn. Điều lư thú, mỗi khi nhớ lại, là cả bộ máy CIA của Mỹ vàmạng lưới mật vụ dày đặc của chính quyền Sài G̣n đều không thể ngờ người saunày trở thành lănh đạo cao nhất của Đảng ta vẫn ở lại miền Nam, có lúc lại ởngay trung tâm đầu năo của họ, và tại đó bản Đề cương cách mạng miền Nam nổitiếng được soạn thảo.

Giữa năm 1957, anh Ba trở ra Bắc, đượcTrung ương Đảng giao trách nhiệm quyền tổng bí thư, và tại Đại hội III được bầulàm bí thư thứ nhất Ban Chấp hành trung ương. Sau khi Bác Hồ qua đời, anh trởthành người lănh đạo cao nhất của Đảng ta. Tuy ở xa trung ương, nhưng chúng tôivẫn như thấy anh Ba rất gần và anh luôn dồn hết tâm lực vào lănh đạo Đảng, chỉđạo Quân ủy trung ương với một quyết tâm sắt đá. Từ những cán bộ cao cấp củaĐảng cho đến anh em các cấp mà tôi có dịp tiếp xúc, ai ai cũng tin tưởng, khâmphục anh Ba và đều khẳng định công lao đặc biệt to lớn của anh đối với sựnghiệp giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước. Tôi cho rằng những đánh giá đólà hoàn toàn công bằng, chính xác.

“Vui sao nước mắt lại trào”

Cách một vài hôm sau ngày Sài G̣n giảiphóng, anh Ba đi chuyến bay đầu tiên cùng đoàn lănh đạo Đảng, Nhà nước từ thủđô vào thành phố mang tên Bác. Lần đón anh Ba - người thật sự kế tục Bác Hồ trởthành vị chỉ huy tối cao của cuộc kháng chiến chống Mỹ thần thánh của dân tộc -trở lại miền Nam, trở lại Sài G̣n thật xúc động. Bao kỷ niệm sâu sắc trỗi dậy.Mọi người ôm chầm lấy nhau, “vui sao nước mắt lại trào”.

Tôi c̣n nhớ măi câu nói đầu tiên của anhBa khi vừa bước xuống cầu thang máy bay: “Thắng lợi này là thắng lợi của cả dântộc VN chứ không của riêng ai”. Tôi nhận thức được ư tứ sâu sắc của anh Batrong câu nói ấy. Anh không chỉ muốn khẳng định truyền thống, niềm tự hào củacả dân tộc ta mà c̣n có ư ngăn ngừa những suy nghĩ so b́ về công lao sau chiếnthắng. Lời căn dặn hoàn toàn chính xác trong giờ phút huy hoàng đó càng chothấy tầm nh́n xa trông rộng của anh Ba.

Ngay sau ngày miền Nam hoàn toàn giảiphóng, tôi đă được nghe anh Ba phát biểu về một số vấn đề kinh tế rất gần sovới những chính sách trong đổi mới. Anh nói tới sự cần thiết phải duy tŕ nhiềuthành phần kinh tế ở miền Nam, không thực hiện hợp tác hóa nông nghiệp như miềnBắc, coi trọng vai tṛ của trung nông... Thời kỳ thực hiện cải tạo công thươngnghiệp miền Nam, tôi cũng không thấy anh thúc giục mà rất quan tâm đến đời sốngcủa những người làm ăn, buôn bán nhỏ. Một lần, vừa vào tới thành phố, anh Bagọi tôi lại bảo: Nghe nói thành phố cải tạo công thương nghiệp, dẹp cả buôngánh bán bưng có đúng không?

 

Đồng chí  Lê Duẩn  đứng trên mảnh đất Vĩnh Linh nh́n sang bên kia bờ sông Bến Hải ngày 2-2-1973 (30 Tết Quí Sửu) -Ảnh tư liệu

Thực tế khi đó, một số anh em bên dướicó làm quá mức nhưng Thành ủy đă chấn chỉnh. Vừa may hôm trước, tôi tới khu chợở Thị Nghè, nghe kể về một chị bốn con nhỏ đang tính phải về quê Bến Tre dùbiết rằng về đó không làm ǵ cho đủ ăn. Tôi đề nghị anh em phường, quận nói vớichị cứ ở lại tiếp tục buôn bán nuôi con, lo đời sống gia đ́nh. Tôi cũng nhắcnhở anh em nên tạo điều kiện cho những người bỏ sức lao động của ḿnh ra buônbán kiếm sống. Tôi đem chuyện đó kể lại với anh Ba.

Dường như c̣n chưa tin hẳn, vài hôm sau,trên đường ra sân bay về Hà Nội, anh Ba gọi anh Trần Tấn, phó chủ tịch UBNDthành phố phụ trách thương nghiệp, lên xe đi cùng. Anh Ba cho xe chạy mấy ṿngquanh khu chợ Sài G̣n, An Đông. Khi ra tới máy bay, anh mới bảo anh Tấn: “Anhvề nói lại với Sáu Dân là tôi tin sự chỉ đạo của Thành ủy”.

Anh Ba rất khuyến khích TP.HCM t́m ṭi,thí điểm tháo gỡ khó khăn. Sau giải phóng mấy năm, TP.HCM kề ngay vựa lúa, vựacá lớn nhất mà phải chạy ăn từng bữa. Đó là điều lạ lùng chưa từng có. Một sốđồng chí ủy viên trung ương ở TP.HCM và mấy tỉnh miền Đông, miền Tây đề nghịtôi báo cáo anh Ba xin trung ương khoán cho mấy tỉnh chúng tôi các chỉ tiêu kếhoạch hằng năm, cho thí điểm một số cơ chế cụ thể trong lưu thông, xuất khẩu vàcho thực hiện khoán và làm “kế hoạch 2, 3” trong công nghiệp. Anh Ba tỏ thái độđồng t́nh cho thí điểm và bảo chúng tôi báo cáo một số đồng chí lănh đạo chủchốt khác. Rất tiếc là đề xuất của chúng tôi không được chấp thuận. Nay nghĩlại, tôi hiểu rằng với những nhận thức chung lúc bấy giờ th́ những đề xuất đókhông được chấp thuận cũng là b́nh thường, không có ǵ khó hiểu.

VƠVĂN KIỆT

(Trích từ Lê Duẩn - một nhà lănh đạo lỗi lạc, mộttư duy sáng tạo lớn của cách mạng VN, NXB Chính Trị Quốc Gia 2002)

Mỗi lần vào thăm TP.HCM, anh Ba đều dành nhiều thời gian đi t́m hiểu thực tế. Anh rất quan tâm tới các cơ sở quốc doanh cũng như ngoài quốc doanh làm ăn tốt. Có lần tới thăm một cơ sở ở Tân B́nh chuyên làm hàng cơ khí tiêu dùng (như dao, kéo...), anh Ba rất khen cách tổ chức sản xuất của bà con. Năm sau, một số anh em khác lại dẫn anh Ba tới đó. Thấy không có ǵ mới so với lần thăm trước, anh không hài ḷng và phê b́nh: đi thực tế là để phát hiện cái mới chứ không phải để tuyên truyền.

 

Kỳ 2: Căn nhà đặc biệt giữa Sài G̣n 1956

Đồng chí LêDuẩn thăm,vui tết  vớ đồng bàoQuảng B́nh,Vĩnh  Linh và thăm  bộ đội  Trường Sơn (xuân 1973) - Ảnh tư liệu

TT - Mấy anh em chúng tôi cùng sốngchung với nhau một thời gắn bó  như  anh em  ruột thịt, mà c̣n hơn thế nữa. Nhiều kỷ niệm sâu sắc nhất  trong  cuộc  đời, bởi lẽ chúng tôi là đội  cận  vệ  bên  cạnh  đồng  chí  Lê  Duẩn.

>> Kỳ 1: Đồng chí Lê Duẩn - anh Ba của một thờilửa đạn

Gia đ́nh “b́nh phong”

Chúng tôi mỗi người mỗi nơi được Đảnggọi gom về để gây dựng cơ sở văn pḥng Xứ ủy Nam bộ trong nội thành Sài G̣n dođồng chí Lê Toàn Thư (hồi đó là ủy viên thường vụ xứ ủy) phụ trách. Đồng chíNguyễn Thị Một từ Ban phụ vận, đồng chí Phan Phát Phước (anh Tám) từ văn pḥngxứ ủy trước đó, đồng chí Trịnh Long Nhi từ Ban tuyên huấn, tôi - Nguyễn ThịLoan, một đầu mối liên lạc từ tuyên huấn xứ ủy về thường vụ xứ ủy.

Riêng tôi được gọi đi với yêu cầu cầnđem cả hai con theo: cháu Chí Công lên 7 tuổi, cháu B́nh c̣n đi lẫm chẫm. Bêncạnh chúng tôi c̣n có chị Nguyễn Thị Danh - một công chức thuế quan của chínhquyền Sài G̣n ở sân bay Tân Sơn Nhất, anh Trịnh Long Việt - một sĩ quan khôngquân chính quyền Sài G̣n vừa giải ngũ về đi làm tư cho Hăng Olympic, một hăngbuôn lớn. Chị Danh, anh Việt là người nhà của đồng chí Trịnh Long Nhi được giácngộ, t́nh nguyện làm b́nh phong che giấu cơ sở cho ta. Họ biết chúng tôi làngười kháng chiến cũ.

Thế là một gia đ́nh “b́nh phong” đượch́nh thành. Mỗi người một vai diễn: đồng chí Trịnh Long Nhi (c̣n có tên CaoMinh Lư) làm anh Hai của tôi, đóng vai một nhà giáo ngày ngày đi dạy học. Tôilà em gái với vai là vợ của một sĩ quan quân đội Sài G̣n, chồng thường vắng nhàbởi thời chinh chiến, tôi cùng hai con phải ở dựa vào anh Hai. Chị Danh, vợ anhNhi, ngày ngày đi làm ở sân bay với tư thế sang trọng của một công chức SàiG̣n, một b́nh phong tốt cho cơ sở. Cậu Việt là em trai út trong nhà, chưa vợ,cứ 7 giờ sáng là đă nổ xe đến hăng làm việc, chiều rảnh rỗi đi chơi có khi đếnđỏ đèn mới về nhà. Người lớn nhất trong gia đ́nh là bà d́ của chúng tôi, đồngchí Nguyễn Thị Một, người đóng vai quan trọng cả trong lẫn ngoài đối với hàngxóm láng giềng...; nhà thầy Hai c̣n có anh bếp, do đồng chí Phan Phát Phướcđóng vai này, ngày ngày xách giỏ đi chợ lo cái ăn cho cả nhà.

Như vậy gia đ́nh chúng tôi có đàn ông,đàn bà, có người lớn, có trẻ con như mọi gia đ́nh b́nh thường thuộc hàng giađ́nh trung lưu ở số nhà 29 Huỳnh Khương Ninh, phường Đa Kao, quận 1. Đây là mộtcăn hộ khang trang vừa phải, thuận lợi nhất là có cửa trước, có sân nhỏ phíasau, có cửa thông ra hẻm ṿng vèo về phía chợ Đa Kao. Nhân ḥa, địa lợi đềutốt.

Một đêm khoảng giữa năm 1956, anh Ba LêDuẩn về nhà 29 Huỳnh Khương Ninh. Được biết anh Ba từ nông thôn lên Sài G̣n, đătạm trú ở một vài địa điểm khác... nhưng lúc bấy giờ, thường vụ xứ ủy nhận thấynhững nơi nói trên chưa kín đáo, chưa chắc chắn lắm nên quyết định đưa anh Bavề ẩn nơi đây với chúng tôi, bên ngoài là một gia đ́nh công tư chức hạng trung,bên trong là một chi bộ của Đảng đáng tin cậy.

Việc làm đầu tiên của chúng tôi là sửasoạn sao cho anh Ba thích hợp với dân Sài thành. Chị Một và tôi lo ngay cho anhBa mấy bộ quần áo lụa, vừa mát vừa lịch sự cho ông già. C̣n việc cạo râu hớttóc cho anh Ba th́ anh Hai Nhi lo. Không thể đưa anh Ba ra ngồi ngoài tiệmđược, anh Hai Nhi rước thợ cắt tóc dạo về nhà cắt tóc trước cho anh Hai Nhi,hôm sau cắt cho cháu Công để ḍ chọn thợ đàng hoàng, thấy được mới để thợ cắttóc cho anh Ba.

Ánh sáng của những ḍng chữ trong đêm

Hằng ngày, anh Ba ở trong pḥng trong.Sáng ra mươi phút thể dục ở khoảng trống có giếng trời, vệ sinh tắm rửa, ăn lótdạ xong, anh đi đi lại lại rồi ngồi vào bàn viết (cái bàn viết này hiện nay c̣nđược lưu giữ ở Bảo tàng Cách mạng TP). Chốc chốc, anh lại đứng dậy đi đi lạilại trong căn pḥng, đăm chiêu suy nghĩ... rồi lại ngồi xuống viết. Những lúcnhư vậy tôi hết sức chăm nom con ḿnh không cho nó quấy rầy làm mất sự yêntĩnh, để anh Ba tập trung suy nghĩ.

Lúc ban đầu, chúng tôi có ư muốn để anhBa dùng cơm riêng trước cho tươm tất, c̣n chúng tôi quấy quá sao cũng được.Nhưng anh Ba không muốn như vậy. Cùng nhau ăn một lúc cho vui..., vậy th́ đạitáo hay tiểu táo đều cùng trên bàn tṛn ở pḥng giữa. Vừa ăn vừa chuyện tṛ vuivẻ, ấm cúng. Ở Nam bộ không hề biết chế độ đại táo hay tiểu táo, nghe đâuchuyện đó có từ bên Trung Quốc. Tôi mượn cách gọi đó để nói “lănh tụ cùng anhchị em cần vụ của ḿnh cùng ăn chung một mâm”.

Anh Ba viết, viết được phần nào th́ đưacho anh Tám Thảo chép lại rồi đưa xuống hầm cất giấu; đêm lại lấy lên chéptiếp. Anh Tám chép là chính. Phải chép đi chép lại nhiều lần, v́ có nhiều đoạnanh Ba sửa đi sửa lại. Về cuối, tôi và anh Hai Nhi cùng tham gia chép. Liêntiếp nhiều đêm, chúng tôi chép vào những cuốn tiểu thuyết công khai để ngụytrang.

Tôi nhớ anh Tám ngâm những trái “ngũbội”, lấy nước đó để viết vào ban đêm dưới ánh đèn chụp những hàng chữ li ti,xen giữa những ḍng chữ in của trang tiểu thuyết. Viết chữ nào th́ chữ đó lặnmất trong rừng chữ của trang tiểu thuyết. Có bản viết trên giấy mỏng, có bảnviết trên giấy dầu. Viết xong, đưa sách đi theo đường dây bí mật, sách đi đếncác liên tỉnh ủy, các xứ ủy viên, chuyên chở nghi trang Dự thảo đề cương cáchmạng miền Nam. Kiểu này có trời mới biết! Chép trong đêm bí mật, ḍng chữ lặnmất trong rừng chữ, nhưng tôi lại thấy ánh sáng xuyên qua những điều được ngheanh Ba giải đáp trong quá tŕnh tôi tham gia chép lại Dự thảo đề cương.

Có lần anh Ba đi ra phố. Từ khi mới vềngôi nhà 29 Huỳnh Khương Ninh, anh đă quan sát đủ thứ, từ chỗ ăn, chỗ nghỉ củamỗi người, nơi cất giấu tài liệu, lối vào ra như thế nào. Có hôm, anh hỏi t́nhh́nh ngoài đường phố ra sao, rồi một đêm tối anh yêu cầu cho anh ra phố. Đồngchí Trịnh Long Nhi đi trước, đồng chí Phan Phát Phước theo sau, từ 29 HuỳnhKhương Ninh đi măi đến đường Mayer (nay là đường Vơ Thị Sáu) ṿng qua đất thánhTây về nhà. Có đêm, khó ngủ, anh nghe tiếng quét rác ngoài đường, tiếng lịchkịch của xe thùng (xe vệ sinh đi lấy phân ban đêm). Sáng ra, anh nói với anhchị em về đời sống của đồng bào cơ cực, trong đêm tối như vậy đó... Có đêm, cótiếng kêu la kinh hoàng “cháy nhà”, tiếng c̣i tàu xe lửa chở người đi trong đêmtối... Hôm sau, được điện mật báo về rằng đó là âm mưu đốt nhà của chính quyềnSài G̣n nhằm phá cơ sở cách mạng ở các khu lao động nghèo: Vườn Chuối, Bàn Cờ,ngă ba Vườn Lài... Những chi tiết như vậy đều được anh khái quát trong phântích t́nh h́nh.

Sau ngày giải phóng, chúng tôi có vềthăm ngôi nhà cũ 29 Huỳnh Khương Ninh, chúng tôi nhắc lại bao kỷ niệm sâu sắcđă trôi qua. Ai trong chúng tôi cũng cảm thấy thật xúc động v́ đă gắn bó vớinhau từ ngôi nhà chung này. Chúng tôi như c̣n thấy ḿnh trong đó, như c̣n thấygia đ́nh anh em năm ấy - “đội cận vệ bên cạnh đồng chí Lê Duẩn” một thời khôngthể nào quên.

Anh Ba cho đón chúng tôi đến cơ quanT.78. Bây giờ quây quần bên anh Ba được nghe anh nói về những thắng lợi, nhữngtriển vọng tương lai của đất nước. Thật là vui và phấn khởi. Cùng chụp ảnhchung với anh Ba có cả các cháu bé ngày trước: Công, B́nh, Thu, Ḥa B́nh. Conchị Một và con tôi nay đều đă trưởng thành. Chỉ thiếu đồng chí Lê Toàn Thư c̣nở Hà Nội chưa vào. Chúng tôi thật vui mừng, phấn khởi với niềm tự hào lắng đọngbên cạnh người lănh tụ thật gần gũi của ḿnh.

NGUYỄN THỊ LOAN

(Trích từ Lê Duẩn - một nhà lănh đạolỗi lạc, một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng VN, NXB Chính Trị Quốc Gia2002) 

Anh Ba của một thời lửa đạn - Kỳ 3:Ngọn đèn 200 nến

TT - Vào khoảng những năm 1948-1950, ởNam bộ người ta truyền nhau một từ mới lạ: 200 bougies. Đó là một từ tiếngPháp, có nghĩa là ngọn đèn sáng 200 nến. Ngọn đèn ấy người ta muốn nói đến anhBa Lê Duẩn.

Không cần nói tên anh Ba, chỉ cần nói“200 bougies” là những người biết tiếng Pháp đủ hiểu đó là ai rồi. Cụm từ “ngọnđèn 200 nến” về anh trở thành danh bất hư truyền ở Nam bộ ngày ấy.

>> Kỳ 1: Đồng chí Lê Duẩn - anh Ba của một thờilửa đạn

>> Kỳ 2: Cănnhà đặc biệt giữa Sài G̣n 1956

Nam bộ cưu mang

Bản chất không thích phô trương, anh Baưa sự chân thật. Anh nói trong đời, anh thích nhất là cách xưng hô của các má,các ba ở Nam bộ. Gặp anh là họ xởi lởi gọi to: “Ồ, thằng Ba, mày mạnh giỏikhông?”. Và anh kể: chính những người dân bộc trực ấy đă cưu mang, che chở anh.Nhiều lần anh thấy mấy ông già chủ nhà ra ngoài sân gác máy bay cho anh ngủ.

Vốn kín đáo, anh rất nhạy cảm và cảnhgiác. Bất cứ một dấu hiệu nào khả nghi có thể làm tổn hại cho cách mạng, anhđều kiên quyết tránh. Một lần, Ủy ban Kháng chiến hành chính Nam bộ tổ chứccuộc hội nghị cán bộ quan trọng cho 200 người dự, ở huyện Cái Nước, tỉnh BạcLiêu. Mọi việc chuẩn bị xong xuôi, chỉ c̣n chờ buổi chiều anh Ba tới để khaimạc hội nghị.

Và anh Ba đă đến, nhưng không phải đếnđể khai mạc mà để thuyết phục mọi người nên dời ngay địa điểm hội nghị qua mộtnơi khác an toàn hơn. Anh nói: “Chúng ta có thể ngồi ngoài vườn hội nghị cũngđược. Chứ Nam bộ chỉ có bấy nhiêu cán bộ cốt cán mà lỡ bị một trận bom th́ tổnthất biết chừng nào!”. Cuối cùng, hội nghị họp “dă chiến” trong một vườn dừa ởxă Tân Duyệt. Các đại biểu ngồi trên bờ dừa, lấy đầu gối kê làm bàn viết. Ainấy ngồi “đồng hạng”, đều vui vẻ và yên tâm.

Nhớ những ngày đầu của cuộc kháng chiếnchống Pháp, t́nh cảnh quân dân ta ở Nam bộ khốn khó trăm bề. Trong cảnh dầu sôilửa bỏng, anh Ba luôn luôn là biểu tượng sáng ngời của khối đại đoàn kết toàndân, của sự lănh đạo tài t́nh của Đảng. Anh đă truyền sức mạnh cho những ngườilănh đạo ở mọi cấp, mọi ngành. Anh đă truyền hơi ấm đến những người cầm súng vàmọi tấm ḷng yêu nước thiết tha.

 

Chủ tịch Hồ Chí Minh, Bí thư thứ nhất Trung ương Đảng Lê Duẩn và Thủ tướng Phạm Văn Đồng tại Đại hội Đoàn toàn quốc lấn III (1961) - Ảnh tư liệu

Anh Ba là người ưa nhường nhịn. Ở Nam bộ hồi đó có trung tướng Nguyễn B́nh rất oai vệ, là tư lệnh toàn Nam bộ. Trung tướng đến đâu thường có quân sĩ đi theo, tốp trước tốp sau. Anh Ba th́ không như vậy. Tác phong của anh rất ôn tồn, lặng lẽ. Nhiều người biết rơ anh là người lănh đạo cao nhất ở Nam bộ, vậy mà về mặt chính quyền, anh chỉ nhận chức trưởng pḥng dân quân Nam bộ thôi. Anh không hơn thua với ai, chỉ thích tận tụy làm việc, sống giản dị và kín đáo. Có lần, một số “anh lớn” nói vui với anh Ba: “Giá như bây giờ anh Ba làm chủ tịch Nam bộ th́ hay quá!”. “Nói tầm bậy!”, anh Ba phản xạ ngay tức khắc. Anh bảo đây là đất Nam bộ, có nhiều nhà trí thức nổi tiếng, tự nhiên đưa một người “nói tiếng trọ trẹ” làm chủ tịch, sao nên! Cho nên các nhà trí thức Nam bộ vào kháng chiến rất thương anh, coi anh như một người anh mẫu mực, có ǵ cũng nhường cho em út.

Ngày 25-10-1945, Hội nghị Xứ ủy Nam bộđă sớm xác định phải tiến hành chiến tranh nhân dân, chiến tranh du kích rộngkhắp, đường lối chiến tranh nhân dân được giữ vững và không ngừng phát triểnsuốt những năm kháng chiến oanh liệt đầy gian khổ.

Thỉnh thoảng cũng có những biểu hiện nônnóng, chủ quan, lạc quan tếu trong cán bộ, bộ đội. Xứ ủy đă nhanh chóng khắcphục những lệch lạc này. Anh Ba luôn là người tiêu biểu cho sự kiên định về tưtưởng và đường lối kháng chiến. Anh đă uốn nắn, chấn chỉnh những sai sót củacác cấp quân dân chính đảng.

Những “ngày Bắc, đêm Nam”

Một trong những chỗ yếu quan trọng củacách mạng trong buổi đầu kháng chiến chống Pháp là lực lượng quân đội kỷ luậtlỏng lẻo. Chính Xứ ủy và anh Ba đă kiên quyết và công phu củng cố các lực lượngvũ trang cách mạng, xác lập sự lănh đạo tuyệt đối của Đảng đối với quân đội,dân quân, du kích.

Nhờ vậy, chỉ trong vài năm, các lựclượng vũ trang của ta từ chỗ yếu ớt, đánh giặc lẻ tẻ đă tiến lên tác chiến cóqui mô, mở được nhiều chiến dịch lớn, đánh thắng nhiều trận vang dội như ThápMười, Mộc Hóa, La Bang, Cầu Kè, Tầm Vu, La Ngà... với sự có mặt của các tiểuđoàn, trung đoàn, liên trung đoàn chủ lực hùng mạnh.

Và khi các lực lượng vũ trang đă pháttriển có qui mô th́ anh Ba xuất hiện với danh nghĩa là chính ủy Bộ tư lệnh Nambộ. Sự xuất hiện công khai của anh với cương vị cao nhất của các lực lượng vũtrang ở Nam bộ đă làm nức ḷng quân và dân ta.

Năm 1952, anh được trung ương mời ra Bắclàm việc. Lúc này cuộc kháng chiến toàn quốc của ta đă phát triển rất mạnh.Những người biết chuyện anh ra trung ương th́ phỏng đoán thế nào cũng sẽ cóbước ngoặt lớn lao. Nhưng số đông th́ không biết anh đi, họ vẫn đinh ninh cóanh bên cạnh để chỉ huy họ, d́u dắt họ. Và anh Ba đă trở về như mong đợi củađồng bào, đồng chí. Giữa đường anh trở về Nam th́ hiệp định đ́nh chiến Genevađược kư kết.

Anh Ba nhận trách nhiệm mới là trưởngphái đoàn đ́nh chiến của Chính phủ ta. Rồi trong chuyến tàu áp chót chở quân đitập kết tại biển Cà Mau, anh Ba đă nghẹn ngào chia tay các đồng chí lănh đạo.Anh nhờ các đồng chí chuyển tới Bác Hồ lời thăm hỏi ân cần và nói: “Có thể 20năm nữa chúng ta mới gặp lại nhau!”. Mấy ai ngờ câu nói ấy trở thành lời tiêntri khi đất nước ta hoàn toàn giải phóng ngày 30-4-1975.

Ở lại miền Nam tiếp tục lănh đạo cuộcđấu tranh của nhân dân ta trong khung cảnh có hiệp định Geneva ràng buộc, đó lànguyện vọng tha thiết của anh Ba, bởi v́ anh thương yêu đồng bào vô hạn. Baonhiêu lần nh́n hai ngón tay của đồng bào khi tiễn quân đi tập kết với mong đợihai năm sẽ thống nhất nước nhà, anh đă trào nước mắt. Anh nói: “Nhân dân tachân thực quá, yêu ḥa b́nh quá”.

Những ngày ở lại miền Nam, anh Ba làmviệc tất bật như người hái lá dâu cho tằm ăn rỗi. Anh Ba phải thường xuyên giảdạng, thường xuyên di dời chỗ ở. Khi th́ đóng vai một thầy thuốc nam. Khi làmột “ông Chín” hiền lành. Nhưng rồi cuối cùng địch cũng phát hiện anh đang ởtrong Nam. Nguy hiểm càng tăng lên gấp bội.

Đùng một cái, khoảng quí 2 năm 1957,được lệnh trên, anh Ba phải chuẩn bị ra Hà Nội. Anh tâm sự với người cần vụ rấttin cậy của ḿnh: “Tôi không muốn ra Hà Nội bây giờ v́ t́nh h́nh trong này c̣nkhó khăn lắm, nhưng v́ Bác Hồ gọi ra. Tôi đi trước. Chú ở lại đi sau”.

Thế rồi năm 1959, nghị quyết trung ương15 ra đời, cho phép miền Nam tiến hành cách mạng vũ trang. Sau đó là Đồng khởi,là Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam VN ra đời, là chiến công nối tiếp chiếncông của quân giải phóng và nhân dân miền Nam.

Tại Đại hội Đảng lần III (1960), anh Bađược bầu làm bí thư thứ nhất Ban chấp hành trung ương Đảng. Đó là vinh dự xứngđáng đối với anh, thể hiện ḷng tin tuyệt đối của Đảng, của Bác Hồ và nhân dânđối với anh.

Do tâm trạng nhớ nhà da diết, trongnhững người đi tập kết hồi đó có một thành ngữ rất phổ biến là “ngày Bắc, đêmNam”. Tôi nghĩ rằng trong thâm tâm, anh Ba cũng có t́nh cảm đó. Bằng chứng làtrong suốt cuộc kháng chiến chống Mỹ, anh liên tục gửi thư vào Nam để hướngdẫn, chỉ đạo t́nh h́nh một cách kịp thời với một tinh thần trách nhiệm cao cả.Bằng chứng nữa là ở đâu có điều kiện thích hợp là anh nhắc tới những người dântốt bụng, giàu ḷng yêu nước ở miền Nam. Khi gặp đoàn anh hùng, chiến sĩ thiđua miền Nam ra thăm miền Bắc, anh đă xúc động nói: “Các em về nhớ nói lại rằnganh Ba lúc nào cũng nhớ các má, các ba và đồng bào trong ấy”.

NGUYỄNVĂN PHI

(Nguyên thứ trưởng Bộ Nội thương, tríchtừ Lê Duẩn – một nhà lănh đạo lỗi lạc,
một tư duy sáng tạo lớn của cách mạng VN,NXB Chính Trị Quốc Gia 2002)

 

Anh Ba của một thời lửa đạn - Kỳ 4: Những câuchuyện đời thường

 

Ba mẹ tôi sau ngày cưới (1950)

TT - Từ những ngày c̣n lănh đạo cáchmạng ở Nam bộ cho đến khi ra Bắc với những “ngày Bắc, đêm Nam”, rồi những nămtháng khó khăn sau khi ḥa b́nh lập lại, đồng chí Lê Duẩn vẫn đau đáu sự nghiệpchung, tạm gác chuyện riêng tư của ḿnh để lo việc chung, lo cho mọi người.

>> Kỳ 1: Đồngchí Lê Duẩn - anh Ba của một thời lửa đạn

>> Kỳ 2: Căn nhà đặc biệt giữaSài G̣n 1956

>> Kỳ 3: Ngọnđèn 200 nến

Có những câu chuyện về đời thường, vềgia đ́nh của cố Tổng bí thư Lê Duẩn giờ đây được kể lại qua người con trai -ông Lê Kiên Thành.

Mẹ tôi

Những năm 1948-1950, ba tôi là bí thư Xứủy Nam kỳ, ngoài 40 tuổi, hoạt động ở Nam bộ. Tại đây ông đă gặp mẹ tôi, lúc đólà trưởng đoàn phụ nữ cứu quốc tỉnh Cần Thơ. Khi biết chuyện ba tôi có ư thươngbà, mẹ tôi hết sức bàng hoàng. Bà chỉ thấy anh Ba là nhà lănh đạo uyên bác rấtđáng tôn kính. Bà chỉ biết ghi chép những chỉ thị, nghị quyết, đường lối… củaông để học tập, thi hành. Nhưng cũng từ đó bà bắt đầu để ư ông. Bà thấy ôngluôn tự chọn cuộc sống đạm bạc đến khắc khổ. Ông chỉ có một chiếc xuồng tambản. Đến cơ quan, cơ sở nào làm việc th́ anh em lên nhà ngủ, ông vẫn ngủ dướighe.

Tổ chức xin ư kiến và được Bác Hồ đồngư. Thế là một đám cưới rất kháng chiến được tổ chức. Những ngày tháng đầu tiênđược làm vợ, mẹ tôi không chỉ được gần gũi một nhà cách mạng cao cả mà ông c̣ndành cho bà một t́nh yêu chân thành. Khi mang thai chị tôi, có đêm mẹ tôi nằmmơ được ăn quả xoài xanh khiến tỉnh dậy thèm chảy nước miếng. Bà kể với ông.Vậy mà trưa đi họp về ông đă cố t́m đâu được trái xoài tượng đem về cho vợ.

Năm 1952, mẹ tôi sinh chị Lê Thị Vũ Anh.Năm 1954 mẹ tôi có mang tôi. Hiệp định Geneva kư kết. Tất cả cán bộ lănh đạocách mạng miền Nam phải quay ra Bắc theo nghị quyết hiệp định gọi là tập kết.Gia đ́nh tôi đứng đầu danh sách này. Ba tôi nghĩ nếu tất cả lănh đạo Xứ ủy đềura Bắc th́ sự nghiệp cách mạng miền Nam sẽ khó khăn, mục tiêu giải phóng, thốngnhất sẽ xa vời. Ba tôi liên tục gửi ba bức điện tới Bác Hồ xin ở lại. Bác vàtrung ương đồng ư nhưng phải giữ bí mật.

Mẹ tôi kể đó là một đêm mùa đông. Bàđang có mang tôi, khệ nệ những túi, b́, tay nải tư trang và bế trên tay đứa conba tuổi theo chồng lên con tàu chở 2.000 con người về Bắc. Đúng 12 giờ đêm, khichỉ c̣n vài tiếng nữa tàu nhổ neo th́ ba tôi phải quay lại bờ. Ông nói với bà:"Anh thương mẹ con em bao nhiêu th́ anh cũng thương đồng bào đồng chí miềnNam bấy nhiêu. Anh mong rằng sau này em sẽ hiểu quyết định hôm nay của anh".Bà không dám tiễn ông giây phút cuối nhưng bà vẫn nghe thấy tiếng canô áp sátmạn tàu đón chồng tiến vào màn đêm. Ba tôi nói với các đồng chí: 20 năm nữachúng ta mới có thể gặp nhau… Đó cũng là tiên đoán của ông về ngày thống nhất.

Về Hà Nội ít lâu th́ tôi ra đời. Nhật kưmẹ tôi viết: "11 giờ trưa ngày 17-4-1955, sinh Kiên Thành. Kiên Thành tứclà kiên quyết hoàn thành nhiệm vụ giải phóng miền Nam. Đó là ư chí của toàn dânvà cũng là của ba con nữa. Kiên Thành sinh thiếu 23 ngày, nặng 2,2kg. Không nuôicon được tṛn những ngày trong bụng, mẹ sẽ ráng nuôi con ở ngoài đời vậy".Đúng 20 năm sau cũng vào những ngày tháng tư chan ḥa nắng mới, đất nước hoàntoàn thống nhất, ư nguyện "Kiên Thành" của dân tộc và ba mẹ tôi đăthành sự thật.

Năm 1957, ba tôi ra Hà Nội. Thế nhưng vợchồng cũng chỉ được ở bên nhau ít tháng, mẹ tôi phải nhận nhiệm vụ công tác tậnBắc Kinh, Trung Quốc. Khi đó bà cũng có mang. Và giữa vùng tuyết lạnh xứ người,mẹ tôi lại một lần đơn độc sinh con.

"Lấy lư tưởng sự nghiệp làmchính"

 

Ba chị em tôi (Lê Kiên Thành ở giữa) chụp ảnh gửi vào cho mẹ Vân đang hoạt động tại miền Nam (1968) 

Cuối năm 1962, mẹ tôi từ Trung Quốc vềHà Nội. Mẹ tôi chưa thể được ở Hà Nội cùng chồng mà phải xuống Hải Pḥng làm ủyviên ban biên tập báo Hải Pḥng. Bốn mẹ con sống trong một gian nhà cấp 4 doThành ủy cấp. Thỉnh thoảng ba tôi tranh thủ xuống thăm. Rồi mẹ tôi quyết địnhvề Nam công tác. 

Mẹ tôi kể sau bữa tiệc tiễn đưa, ba tôiđộng viên: "Thôi cuộc đời chúng ḿnh đă như vậy, hăy lấy lư tưởng sựnghiệp làm chính. Như vậy chúng ta vẫn gần nhau". Lá thư đầu tiên tôi nhậnđược từ mẹ tôi vào năm 1965. Mẹ tôi kể bà đang ở rừng U Minh, cuộc sống nhiềugian nan nguy hiểm, thương nhớ các con nên bà đă bạc tóc rồi. Bà sợ nhất làmuỗi. Trong thư bà kẹp một con muỗi khô to tướng và một sợi tóc bạc. Tôi nh́nmà không cầm được nước mắt.

Mẹ tôi kể rằng trong đó đối phương vẽh́nh bà cao 1,6m, rộng 1,2m ở các chợ Rạch Giá, Cần Sỏi, Cần Thơ với hàng chữ"Tên thật là Nguyễn Thụy Nga, tên mới là Nguyễn Thị Vân, vợ của lănh tụ số1 cộng sản Bắc Việt về nằm vùng" kèm theo tiền thưởng cho ai bắt được.

Đúng 10 năm xa cách, năm 1974 khi đanghọc ở Liên Xô th́ tôi được đón mẹ tôi giữa sân bay Matxcơva mênh mông tuyếttrắng. Mẹ tôi tiều tụy và mang nặng dấu ấn sốt rét rừng trên gương mặt tím táiđến quặn ḷng. Mẹ tôi kể bà đă đi dọc đường Trường Sơn ra Bắc lúc nào cũng có ưt́m con chỉ để dặn rằng: cuộc chiến đấu này gian khổ, tàn khốc muôn phần, conkhông được chủ quan… Ra tới Hà Nội, ba mẹ tôi gặp nhau mừng mừng tủi tủi, nhưnghạnh phúc chưa tṛn th́ mẹ tôi lại phải sang Liên Xô chữa bệnh. Về lại Hà Nội,nhưng những mầm bệnh quái ác chưa hết, mẹ tôi lại đi Cộng ḥa Dân chủ Đức.

Đúng năm ấy, Sài G̣n giải phóng, đấtnước thống nhất. Thế là suốt 10 năm gian khổ nhất cuộc chiến, mẹ tôi đă ở miềnNam, nhưng ngày giải phóng th́ bà ở tận bên kia quả địa cầu. Dân tộc, gia đ́nh,t́nh bạn, t́nh yêu được ngày sum họp. Nhưng miền Nam lại gọi mẹ tôi, mục đíchcuối cùng vẫn là để ba tôi toàn tâm toàn ư hơn khi phục vụ cách mạng. Cuối đời,ba tôi nói sẽ về Nam nghỉ những năm c̣n lại. Mẹ tôi đă chờ nhưng cũng như baonhiêu lần chờ đợi khác, ba tôi không thể về bên mẹ tôi do nhiệm vụ ở Hà Nội, chođến khi ba tôi ra đi vĩnh viễn.

LÊ KIÊN THÀNH

(Quang Thiện ghi)

 

 

 

 

 

 

 

 



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend