TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

“ Soldat”: Binh Sĩ=Lính Tập=Lính Đạo=Bộ Đội Bao Hàm Ư Nghĩa Quân Sư


Flag of Cambodia  Flag 

 

QUỐC KỲ VIỆT NAM: Có những người Việt, v́ lư do nào đó, nói đến Quốc Kỳ Việt Nam, cờ đỏ sao vàng gọi là lá cờ máu. Tôi không hiểu họ muốn ǵ? Chắc là qua hận thù bởi thua chạy, mất quyền lợi và nhất là ‘đặc ân’ làm bù nh́n cho Mỹ....click đọc thêm: QUỐC KỲ-QUỐC HIỆU-QUỐC CA Cờ Đỏ Sao Vàng – Cờ Vàng Ba Que

 

Cờ Tam Vị Nhất Thể

Chúa Cha – Chúa Con – Chúa Thánh Thần

 

BÀN VỀ “CỜ BA QUE” TREO DƯỚI "ĐÍT" CỜ MỸ Ở IRAQ: Trên mạng www.cva646566. .h́nh cờ vàng ba sọc “cờ ba que” treo dưới “đít” cờ Mỹ. Và đứng phía dưới là Đại Úy Quân Lực Mỹ Michael Đỗ. Một số người thấy h́nh ấy đă hồ hỡi khoe cờ vàng ngăo nghễ tung bay. Có phải như vậy không? Có thật như vậy không?....

Ho Chi Minh

 

HỒ CHÍ MINH: CHÍNH SÁCH CẢI CÁCH RUỘNG ĐẤT  Cha già Hồ Chí Minh chỉ đạo kháng chiến và chính sách quân sự đặt biệt Chính Sách Cải Cách Ruộng Đất ngay trong vùng tự do, đă được giải phóng đă làm rung chuyển mọi hoạt động trong công cuộc kháng chiến, như Nguyễn Trăi viết mật trên lá cây “Lê Lợi vi Quân, Nguyễn Trăi vi Thần” của thế kỷ 20. Hồ Chí Minh và Việt Minh Cộng Sản Đảng đă khơi dậy tinh thần và lực lượng chiến đấu của quân đội ngay trong chiến hào ở Điện Biên Phủ, mỗi khi có thư, hoặc biết tin nhà được chia ruộng là anh em sung sướng, khoe nhau, vui mừng đến rơi nước mắt…

 

 

Tổng Bí thư Lê Duẩn

Vào Google “LÊ DUẨN” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Duẫn”

 

TUYỂN TẬP CHA GIÀ LÊ DUẨN I &  LÊ DUẨN II:   Là đảng viên thuộc lớp đầu của Đảng, đồng chí Lê Duẩn, thường được gọi bằng cái tên Anh Ba, là một trong những học tṛ xuất sắc nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại, là một nhà lănh đạo lỗi lạc, một nhà chiến lược kiệt xuất, một trí tuệ lớn của cách mạng trong thế kỷ XX....

 

Vào Google “LÊ ĐỨC THỌ” bạn sẽ đọc

mấy trăm bài và h́nh “cha già Lê Đức Thọ”

 

Những Mẩu Chuyện Bên Lề Hội Nghị Paris   Chưa bao giờ người ta thấy cố vấn Lê Đức Thọ nổi nóng như buổi sáng hôm đó. Ông trút hàng loạt những từ như "lừa dối", "ngu xuẩn", "tráo trở", "lật lọng"… lên đầu ông Kissinger, khiến ông này không nói được ǵ cả. Măi sau ông ta mới nhỏ nhẹ đề nghị cố vấn Lê Đức Thọ hăy nói khe khẽ thôi, không các nhà báo bên ngoài nghe thấy lại đưa tin là ông đă mắng người Mỹ. Nhưng ông Lê Đức Thọ vẫn không buông tha: “Đó là tôi chỉ mới nói một phần, chứ c̣n các nhà báo họ c̣n dùng nhiều từ nặng hơn nữa kia!”.

 

 

VỀ ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ NGHĨA  Theo Nguyên Tổng Bí thư Ban Chấp hành T.Ư Đảng Đỗ Mười, ngày nay, có không ít người dao động, phai nhạt lư tưởng cách mạng, với nhiều dạng biểu hiện khác nhau: có người ngượng ngùng khi nói "chủ nghĩa xă hội" hoặc khi nói "định hướng xă hội chủ nghĩa; có người nói một đằng làm một nẻo; thậm chí có người biện hộ, ca ngợi một chiều chủ nghĩa tư bản, trong khi phản bác, bôi nhọ và gieo rắc nghi ngờ về chủ nghĩa xă hội... Nguyên nhân dẫn đến sự dao động này có nhiều và rất phức tạp.....

 

Vơ Văn Kiệt

TẠ TỐN BẠCH MAO THỦ TƯỚNG VƠ VĂN KIỆT …Tôi không ngờ, Ngài Thủ tướng Vơ Văn Kiệt dám làm qua mặt Đảng và nhất là Ngài vi phạm nguyên tắc sơ đẳng hành chánh, mà Ngài đứng đầu ngành Hành Chánh Nhà Nước. Tôi (NQT), chỉ ngờ thôi, có lẻ Ngài đă cấu kết ngoại bang, không thể nào tin được. Vào năm 1993?, sau nhiều lần Ngài công du Âu châu về. Hôm đó bốn anh em chúng tôi trong uỷ ban đặt tên đường thành phố Hồ Chí Minh đang làm việc, th́ có anh Công Văn của Ngài Thủ tướng đưa vào mănh giấy lộn nhỏ, và nói rằng “ Thủ tướng yêu cầu các đồng chí phải đổi tên đường liệt sĩ cách mạng Thái Văn Lung thành đường tên Alexandre De Rhodes (cố đạo gián điệp)  gấp …Chúng tôi hỏi, như thế đồng chí có Văn thư hay Công văn của Thủ tướng không? để chúng tôi dễ dàng hơn…, xin lỗi các đồng chí, không có ạ! chỉ có mănh giấy này thôi, mong các đồng chí thi hành….Chúng tôi  quá ngao ngán “Ông nội chúng tôi có sống lại không dám phản đối Ngài Vơ Văn Kiệt và thi hành”…. 

 

 

Tin tức - Tài liệu - Lịch sử

Sự kiện Việt Nam - Thế giới

Tin Thế Giới & Việt Nam

Truyền H́nh Online Mười Ngàn Ngày Vietnam War

Chương Tŕnh Truyền H́nh Trực Tuyến Việt Nam Trên DÔNG DƯƠNG THỜI BÁO.NET

VIỆT NAM NGÀY NAY RADIO TRÊN DONGDUONGTHOIBAO.NET

Cuộc Đời Cách Mạng Tổng Thống Hugo Chavez

Cuộc Đời Và Sư Nghiệp Tổng Thống Saddam Hussen

Hồ Chí Minh & Đảng CSVN

Tam Đại Việt Gian Ngô Đ́nh Điệm

Những Tài Liệu Và Kiện Lịch Sử Cách Mạng Miền Nam 1/11/63

Những Siêu Điệp Viên LLVT

Sự Thật GHPGVNTN “Vơ Lan Ái” Ăn Phân T́nh Báo Mỹ NED

Hiễm Họa Giặc Áo Đen La Mă

Đại Thắng Mùa Xuân 30/4/75

“Lính Đánh Thuê” QĐVNCH

Lột Mặt Nạ DBHB Của NED

 

 

Lê Hồng Phong

Hoàng Linh Đỗ Mậu

Hoàng Nguyên Nhuận

Trần Chung Ngọc

Giuse Phạm Hữu Tạo

Nguyễn Mạnh Quang

Charlie Nguyễn

Nguyễn Đắc Xuân

Nhân Tử Nguyễn Văn Thọ

Thân Hữu

Báo Trong Nước & Hải Ngoại

 

Trang Nối Kết

 

 

Websites trong nước

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Websites hải ngoại

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

Tin tức - Sự kiện - Tôn giáo Thế giới & Viet nam

 

* VẤN ĐỀ ĐẠO ĐỨC TRONG HOẠT ĐỘNG KHOA HỌC

Trong khi đó, Dương Nguyệt Ánh đă trả lời mau lẹ và nhấn mạnh: “Tôi không ở phía hành quân (nghĩa là tôi không đích thân đi ném bom này), chúng tôi không quan ngại đến sự tử vong của con người.”  (“I’m not on the operation side,” she says quickly, not missing a beat. “We don’t deal with human fatality.”)…

 

C̣n tại sao lại đi vào ngành chế tạo vũ khí? Bởi v́ tôi muốn phục vụ cho nền an ninh quốc pḥng Hoa Kỳ. Là một người tỵ nạn chiến tranh, tôi không bao giờ quên được những người chiến sĩ Hoa Kỳ và VNCH đă từng bảo vệ cho tôi có một cuộc sống an toàn...

 

* Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền Và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử  

 

Bush and Blair, cartoon    Cuốn sách Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử (Tyrants, History’s 100 Most Evil Despots and Dictators), phải liệt kê một số Tổng thống Mỹ và Thủ tướng Anh là những Tội Phạm Chiến Tranh, cũng là Những Bạo Chúa, 100 Tên Chuyên Quyền và Độc Tài Ác Nhất Trong Lịch Sử, phải bị treo cổ sau mỗi cuộc chiến tranh, đă được Noam Chomsky, một học giả lừng danh của Mỹ, Giáo sư Viện Kỹ Thuật Massachusetts(M.I.T.) viết: “Nếu những luật của Nuremberg ( ṭa án xử tội phạm chiến tranh ) được áp dụng th́ sau mỗi cuộc chiến tranh, mọi tổng thống Hoa Kỳ đều đă phải bị treo cổ.” (If the Nuremberg laws were applied, then every post-war American president would have been hanged)....

 

 * MẶT TRẬN GIẢI PHÓNG MIỀN NAM

Trước tháng Tư 1975, nhiều người nghe nói đến Việt Cộng hay Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam rất ớn. Có chúng tôi trong đó!

 

     Bởi v́ nói đến Việt Cộng, MTGP/MN lúc đó là nói đến những ǵ gớm ghiếc, ghê tởm vô cùng. Đến nỗi ngoài này, có một tác giả bị báo chí “quốc gia” tấn công rách như cái mền, v́ dám viết về quân đội hào hùng say sưa và hăm hiếp...Cho nên v́ khác chiến tuyến nên VC hay MTGP/MN đều là xấu, và Việt Nam Cộng Ḥa (VNCH), nhất là quân lực th́ khỏi chê. Binh hùng, tướng mạnh, nói đến những ǵ không tốt hay sai quấy là phản tuyên truyền phá hoại của địch.... 

 

* Nông Dân Việt Xuất Cảnh Làm Chuyên Gia

Giáo sư Vơ Ṭng Xuân và một nông dân của làng Mange Bureh 

    Táo bạo và lăng mạn, nhưng là câu chuyện hoàn toàn thực tế về chương tŕnh đưa nông dân đầu trần, chân đất từ miền Tây Nam Bộ sang châu Phi dạy người dân ở đây trồng lúa....

 

Dự kiến, các chuyên gia sẽ thử nghiệm 50 giống lúa cao sản và 10 giống lúa chất lượng cao mang từ ĐBSCL qua. Sẽ có một hội đồng giống tại Rokupr xem xét và đồng t́nh th́ mới nhân rộng ra cho toàn vùng. Các nông dân châu Phi giúp việc tỏ ra khá lạ lẫm với các quy tŕnh làm ruộng hết sức chuyên nghiệp của dân Việt Nam. Và họ cũng chưa h́nh dung ra mấy khi nghe các chuyên gia xứ Việt khoe sẽ biểu diễn nuôi cá, nuôi tôm trong ruộng lúa. Thật là một điều không tưởng với một xứ sở c̣n nghèo đói, lạc hậu như Sierra Leone...  đọc tiếp 

 

* Chùa Bái Đính - Khu Chùa Lớn Nhất Việt Nam

 

    Đây là một khu chùa lớn nhất Việt Nam, đang được xây dựng, dự kiến đến năm 2010 sẽ hoàn thành để kỷ niệm 1.000 năm Vua Lư Thái Tổ dời đô từ Hoa Lư ra Thăng long (1010 – 2010)....

Xem h́nh  Chủ tich Quốc hội và phu nhân Nguyễn Phú Trọng

Trước nhà Đinh, ở Ninh B́nh đă có nhiều chùa cổ, có chùa đă được xây dựng từ trước thời Hai Bà Trưng. Trải qua các triều đại, cho đến bây giờ, Phật  giáo ở Ninh B́nh vẫn được phát triển và nhiều chùa đang được xây dựng lại. V́ vậy, việc xây dựng một ngôi chùa lớn nhất Việt Nam ở Ninh B́nh là điều có ư nghĩa rất lớn.

 

*

LM.Nguyễn Văn Hùng

Việt Tân Và Âm Mưu Dùng Lao Động Việt Ở Đài Loan Để Chống Phá Tổ Quốc ...Nhiều nhân chứng cho biết, Việt Tân - thông qua Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam (VMWBO) tại Đài Loan, đă tuyển mộ được một số công nhân, “cô dâu” Việt tại Đài Loan và dùng họ như những “nhân chứng sống” để tuyên truyền, xuyên tạc, chống lại Nhà nước Việt Nam....

 

Văn pḥng Trợ giúp pháp lư và cô dâu Việt Nam” (thường được gọi là Vietnamese Migrant Workers and Brides Office - VMWBO), địa chỉ đặt tại 116 đường Chung-Hwa, thành phố Bade, quận Taoyuan, Đài Loan, điện thoại số 886-3-217-0468....  

 

* TRANG CHÍNH ĐÔNG DƯƠNG THỜI BÁO THÁNG 9 - 2007

 

 

 

 

 

Tên cố đạo gián điệp Alexandre de Rhodesvận động và xúi dục

triều đ́nh Pháp gửi“binh sĩ = soldat”xâm lăng Việt Nam

                                              

 

“Soldat”: Binh Sĩ=Lính Tập=Lính Đạo=Bộ Đội

Bao Hàm Ư Nghĩa Quân Sự, Quân Đội

      

 

    Lời Phi Lộ: ĐDTB, lên mạng ba bài viết trên trang Talawas, về tên cố đạo gián điệp Alexandre De Rhodes đă vận động và xúi dục triều đ́nh Pháp gởi “binh sĩ=soldat” xâm lăng Việt Nam: Alexandre de Rhodes-Đối  luận với tác giả Hoàng Trung của Bùi Kha – Xin góp ư dịch chữ “soldat” của Lư Đương Nhiên – Kính gởi Ban Biên tập talawas của Cao Huy Thuần. Thêm phần phụ lục là bức thư giáo sư Hoàng Tuệ, gửi cho anh Tâm Đạt Trần Thông, ngày 26 - 11 – 96, (sẽ Scan  bức thư lên mạng), cho chúng ta thấy rằng giới học giả nghiên cứu miền Bắc trước 1975, thiếu tài liệu nghiên cứu về Alexandre de Rhodes và hai tên đại Việt gian Petrús Kư ( Trương Vĩnh Kư) và Nguyễn Trường Tộ.

 

    Trong miền Nam, Việt gian Cần Lao Công Giáo Diệm Thiêu Ngụy VNCH, th́ ngụy sử ca tụng và tiêu hủy tài liệu những tên đại Việt gian này. Niềm vui cuối đời của giáo sư Hoàng Tuệ, là  được đọc toàn bộ sách Giao Điểm và sách Lê Trọng Văn, sách anh Tiến sĩ Cao Huy Thuần, sách Tiến sĩ Nguyễn Xuân Thọ,...in chui ở Việt Nam và in ở Mỹ, và bức thư Trương Vĩnh Kư gửi cho Grand Chef, viết vào cuối tháng 3, năm 1859 ( tiến sĩ Vũ Ngự Chiêu sưu tập trong văn khố Pháp tại Paris) và linh mục Nguyễn Trường Tộ đứng trong đoàn giáo sĩ gián điệp Tây tại Đà Nẵng năm 1858 đón tiếp hạm đội Pháp bắn phá Đà Nẵng (ghi chú ở tr 22*, của Nguyễn Trường Tộ Con Người Và Di Thảo của linh mục Trương Bá Cần, nxb TP. Hồ Chí Minh , năm 1988)...mà những sách và tài liệu, giáo sư Tuệ đọc được, do anh Trần Văn Thông ở Mỹ và anh Lê Nhu đến tận nhà hai lần trao cho (cám ơn vô cùng)

 

    Nhân dân ta ngày nay, có được quang minh lịch sử, là do toàn dân quân ta được cha già dân tộc Hồ Chí Minh – Lê Duẩn – Lê Đức Thọ và Việt Minh Cộng Sản Đảng lănh đạo kháng chiến cơm vắt – quần cụt quyết tâm kiên cường dành Độc lập-Thống nhất-Chủ quyền Tổ quốc Việt Nam, bởi chiến công vĩ đại lịch sử Nhân loại là Đại Thắng Mùa Xuân 75, đánh cho giặc Pháp-giặc áo đen Vatican-giặc áo đen Khuyển sinh Công giáo bản địa-giặc Tin lành*-giặc Mỹ Ngụy tháo chạy chiến bại cút-nhào, mà hơn 100 năm bọn thực dân đế quốc da trắng Pháp-Vatican-Mỹ, ngụy danh mở mang nước “C” được đoàn quân gián điệp giặc áo chùng đen Vatican và giặc áo đen Khuyển sinh Công giáo bản địa tiền đạo mở đường tiến công xâm lăng chiếm thuộc địa và đô hộ bóc lột tàn bạo nhân dân ta và thế giới.

 

 

*******

 

Catechismus (Phép giảng Tám ngày) là một trong những cuốn sách Rhodes

viết để dạy cho con chiên Việt Nam phỉ báng lịch sử và văn hóa nước ta

 

XIN GÓP Ư DỊCH CHỮ “SOLDAT”

 

Lư Đương Nhiên

 

 

Trong bài viết “Từ một câu chữ của Alexandre de Rhodes đến các dẫn dụng khác nhau” của Giáo sư Chương Thâu đăng trong tạp chí Công giáo và Dân tộc số ngày 15-3-1996 có đoạn như sau:


Trong cuốn sách Divers voyages et missions (Các cuộc hành tŕnh và truyền giáo) của linh mục Alexandre de Rhodes do Cramoisy xuất bản tại Paris năm 1653 ở đoạn cuối chương 19 của phần thứ 3, có một câu nguyên văn: “J’ai cru que la France, étant le plus pieux royaume de monde, me fournirait plusieurs soldats qui aillent à la conquête de tout L’orient, pour l’assujetter à Jésus Christ, et particulièrement que j’y trouverais moyen d’avoir des Évêques, qui fussent nos pères et nos maitres en ces Églises. Je suis sorti de Rome à ce dessein Le 11e Septembre de l’année 1652 après avois baisé les pieds du Pape.”

Và câu này được Hồng Nhuệ dịch ra Việt ngữ trong cuốn Hành tŕnh và truyền giáo do Ủy ban đoàn kết Công giáo thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1994, ở trang 263 như sau: “Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cơi Đông Dương đưa về quy phục chúa Kitô và nhất là tôi sẽ t́m được các giám mục, cha chúng tôi và Thày chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ư đó, tôi rời bỏ Roma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tôi hôn chân Đức Giáo hoàng.” (Người dịch chú thích từ chiến sĩ ở đây: nói chiến sĩ Phúc Âm tức là nhà truyền giáo, chứ không phải binh sĩ đi chiếm xứ xăm lăng – trang 289)


(plusieurs soldats là "nhiều chiến sĩ", Hồng Nhuệ lại dịch là "mấy chiến sĩ"?)


Trong bài tham luận đọc tại Hội nghị Quốc tế về Nghiên cứu Lịch sử và Văn hoá Việt Nam ngày 3, 4, và 5 tháng 12 năm 1992, ông Nguyễn Đ́nh Đầu đă dịch plusieurs soldats trong câu văn của Alexandre de Rhodes và cho rằng chữ chiến sĩ có nghĩa bóng là thừa sai.


Đến ngày tưởng niệm 400 năm ngày sinh của A. de Rhodes, Giáo sư sử học Đinh Xuân Lâm đă dịch thẳng câu chữ plusieurs soldats là “chiến sĩ truyền giáo” không phải e dè ǵ nữa v́ ư kiến của ông là ư kiến quyết định. A. de Rhodes là tên gián điệp đội lốt tôn giáo đă trở thành danh nhân Việt Nam được đặt bia ở Thư viện Quốc gia Hà Nội và tên đường ở Sài G̣n.


Trong bài viết “Ai làm ra chữ quốc ngữ?” đăng trong báo Tuổi Trẻ ngày 31-1-1993, Giáo sư Hoàng Tuệ đă dịch plusieurs soldats là binh lính như sau: “Tôi nghĩ nước Pháp, vương quốc mộ đạo nhất, có thể cấp cho tôi binh lính để chinh phục toàn phương Đông, đặt nó dưới quyền Jésus Christ”. Giáo sư Nguyễn Khắc Xuyên đă viết bài “Gửi GS Hoàng Tuệ bàn về chữ Quốc ngữ trên tờ Tuổi Trẻ” đăng trên báo Ngày Nay số 277 ngày 1-7-1992 ở Houston, Texas. GS Xuyên đă mạt sát GS Tuệ là "ngu xuẩn", "ngu dốt", "thật là dốt lại thích nói chữ"... GS Xuyên đă chất vấn GS Tuệ như sau: “Từ điển Pháp Việt của Trương Vĩnh Kư dịch soldat là ‘lính, binh lính, lính tráng’. Từ điển Pháp Việt của Đào Duy Anh dịch soldat là ‘lính, bộ đội, chiến sĩ...’” Như vậy GS Tuệ lùi lại hơn nửa thế kỷ khi chỉ dịch theo Trương Vĩnh Kư mà không theo từ điển mới nhất 1981. GS chủ ư chụp mũ cho Đắc Lộ về Âu châu mộ lính”. Theo thời gian, có chữ thêm nghĩa hoặc thay đổi nghĩa, ví dụ như chữ Jésuite thời linh mục A. de Rhodes có một nghĩa là giáo sĩ Ḍng Tên. Sau này giở từ điển ra có thêm nghĩa là “người giả nhân nghĩa, đạo đức giả, xảo trá, tráo trở”. Nước ta trước đây có đạo Gia tô sau đổi là đạo Thiên chúa, đạo Kitô, rồi sau cùng là Công giáo. Khi Gs Ngô Đức Thọ dịch quyển sách Hán văn ở thế kỷ 18 là quyển Tây dương Gia tô bí lục th́ ông không dịch là Tây dương Công giáo bí lục được. Cuối thế kỷ 19, tức vào thời ông Trương Vĩnh Kư, chữ soldat chưa có thêm nghĩa là chiến sĩ. Như vậy thời của A. de Rhodes chữ soldat chỉ có nghĩa là “lính, binh lính, lính tráng” mà thôi. Cho nên khi dịch chữ soldat do linh mục A. de Rhodes viết ra chỉ có nghĩa là binh lính, lính tráng mà thôi. Đọc cả đoạn văn bằng Pháp văn ở trên chẳng có chỗ nào là nghĩa bóng cả. GS Hoàng Tuệ dịch là “Tôi nghĩ nước Pháp, vương quốc mộ đạo nhất, có thể cấp cho tôi binh lính để chinh phục toàn phương Đông, đặt nó dưới quyền Jésus Christ” là dịch đúng vào thời điểm A. de Rhodes viết ra chữ soldat. Tôi đă lớn tuổi, có đọc sách hiểu rằng chữ “chiến sĩ” đứng một ḿnh có nghĩa chỉ về quân đội. Chữ “chiến sĩ” muốn có thêm nghĩa bóng hoặc văn vẻ th́ phải thêm chữ chỉ nghĩa vào đằng sau, như: chiến sĩ văn hoá, chiến sĩ tự do, chiến sĩ Phúc Âm... Thời của A. de Rhodes muốn chỉ các nhà truyền giáo th́ có chữ missionnaire, mà A. de Rhodes muốn xin các nhà truyền giáo th́ ông đương nhiên hiểu thẩm quyền nào có quyền cấp cho ông, như:

 

Toà thánh Vatican;

 

Ngày 4-5-1493, Giáo hoàng Alexandre 6 chia đôi thế giới, một nửa cho Bồ Đào Nha, một nửa cho Tây Ban Nha được phép đi chinh phục thế giới và truyền đạo. Linh mục A. de Rhodes đi sang Á châu qua ngả Bồ Đào Nha. Khi A. de Rhodes về Pháp sang Vatican vận động với Giáo hoàng cho Giáo hội Pháp được thành lập Giáo đoàn Pháp quốc Hải ngoại, Giáo hội Bồ Đào Nha phản đối và không cho A. de Rhodes sang Á châu. Giáo hoàng phải cử ông sang Ba Tư, sau đó phong ông lên làm Giám mục. Sau khi ông chết, Toà thánh mới cho phép Giáo hội Pháp thành lập Giáo đoàn Pháp quốc Hải ngoại.

 

Như vậy, A. de Rhodes muốn xin các giáo sĩ th́ chỉ được phép xin với Vatican hay Giáo hội Bồ Đào Nha mà thôi. Thời đó cả Á châu chưa có súng, chỉ một ít quân có súng đă chiếm được Macao để lập căn cứ truyền đạo. A. de Rhodes sang Việt Nam phải trốn, lẩn và bị trục xuất. Ông đă vẽ bản đồ Việt Nam và viết báo cáo về việc truyền giáo của ông ở Việt Nam. V́ chưa có đường hàng không mà chỉ có đường biển, nên các nhà truyền giáo hiểu rằng muốn xâm nhập vào Đông Nam Á th́ Việt Nam là cửa ngơ cần phải chiếm để lập căn cứ. Nước Bồ quá nhỏ, ít quân, không đủ khả năng nên A. de Rhodes đă xin với chính phủ Pháp soldats là xin quân lính sang chiếm nước ta.


Chứng minh tham vọng của các nhà truyền giáo như sau:

 

Không phải chỉ người Việt Nam mà cả người Pháp cũng ngạc nhiên và lo sợ lối hành binh của Tây Sơn. Ngày 11-8-1788, trong một lá thư gửi cho ông Letoudal, giáo sĩ (Giám mục) La Bertete có viết: "Tôi không rơ cuộc viễn chinh của người Pháp khi nào sẽ xảy ra, nhưng tôi sợ rằng quân Pháp của chúng ta v́ khinh thường bọn này (Tây Sơn) và không am hiểu tường tận về cách hành binh của họ và sẽ không đủ sức mạnh th́ có thể trở thành nạn nhân bi thảm” (tài liệu Hội Truyền giáo Hải ngoại ở Paris. Cochinchin, tập 102 trang 176). ( Đỗ Bảng – Những Khám phá về Hoàng Đế Quang Trung, tr 209) – Vua Quang Trung đang khỏe mạnh lăng đùng ra chết, có dư luận cho rằng vua Quang Trung có thể đă bị nhà truyên giáo tây phương thuê người đầu độc là có cơ sở lắm?

 

Giám mục Bá Đa Lộc (Pigneau de Béhaine) dẫn Hoàng tử Cảnh sang Pháp xin với vua Louis 16 (1754-1789) đem quân sang giúp Nguyễn Ánh.

 

Năm 1857, Giám mục Pellerin, Hồng y Bonnechose, Linh mục Legrand de Liraye, Linh mục Huc vận động Pháp hoàng Napoléon đệ Tam qua ngả Hoàng hậu Eugenie Marie Montijo, được Pháp hoàng chấp thuận. Năm 1858, Đô đốc Rigauit de Genoully  đem quân qua đánh chiếm nước ta.

 

Như vậy, A. de Rhodes xin các nhà truyền giáo với Giáo hội Pháp không được và xin với chính phủ Pháp cũng không được luôn v́ không phải thẩm quyền của họ. A. de Rhodes xin chính quyền Pháp soldat là xin binh lính. Giáo sĩ đi trước binh lính theo sau, đó là sách lược của các nước Âu châu đi chiếm thuộc địa vào các thế kỷ trước đây. Thời của linh mục A. de Rhodes, chữ soldat chưa có thêm nghĩa “chiến sĩ” mà dịch plusieurs soldats là “chiến sĩ truyền giáo” chỉ là ngụy biện. Mà ngụy biện thường đi với ngoan cố rất là khắng khít.


C̣n về chữ Quốc ngữ, các nhà truyền giáo thuộc Ḍng Tên người Bồ sang Việt Nam có nhu cầu truyền đạo nên họ phải phiên âm học tiếng Việt để giảng đạo, đó là do nhu cầu của họ. Họ sáng chế ra chữ Quốc ngữ mục đích không phải cho dân tộc Việt Nam. Ông Charlie Nguyễn đă viết: “Tên cướp xông vào nhà ḿnh bị chủ nhà phản công phải bỏ chạy để quên con dao. Chủ nhà nhặt lên thấy dao sắc th́ dùng để thái thịt, đâu có chạy theo tên cướp để cám ơn.” Người Nhật, người Tàu, người Đại Hàn họ vẫn dùng chữ của họ mà nước Nhật là cường quốc kinh tế đứng hàng thứ hai thế giới, nước Tàu đứng thứ tư thế giới, và Đại Hàn cũng đang trở thành cường quốc về kinh tế. Cách đây gần năm, tờ Newsweek có bài viết cho biết trước đây sinh viên Mỹ học thêm ngoại ngữ như Nga, Tây Ban Nha, Đức và Pháp ngữ. Nhưng nay sinh viên Mỹ một số đă chuyển sang học chữ Tàu. Nếu Việt Nam vẫn sử dụng chữ Hán như ông cha trước đây biết đâu lại có lợi cho ngày hôm nay?

 

Trích Talawas

 

*******

 

 

Alexandre de Rhodes - Đối luận với tác giả Hoàng Hưng

 

Bùi Kha 

 

Tác giả Hoàng Hưng, trong bài viết “Những băn khoăn từ lá thư trả lời của ông Nguyễn Hoà” trên talawas ngày 1.4.2006, đă đề cập nhiều chi tiết thú vị và oái oăm về t́nh trạng dịch thuật ở Việt Nam hiện nay.

Tuy nhiên, trong bài viết đó, có một đoạn văn không những liên quan đến vấn đề trích dịch mà c̣n mở lại một vấn đề học thuật tưởng đă chấm dứt: Vấn đề “Công và tội” của linh mục Alexandre de Rhodes.

Ông Hoàng Hưng viết nguyên văn như sau:


“Chuyện thứ nhất: Một sai lầm nghiêm trọng đă xảy ra trong lịch sử văn hoá Việt Nam mà nguyên do chỉ tại một trích dẫn có nguồn gốc hồ đồ.


Chuyện này xin kể đại khái, không đảm bảo chính xác về lời dẫn hay năm tháng, v́ tôi đang ở rất xa nhà, không có trong tay tư liệu để trích lục, song đảm bảo chính xác về nội dung. Số là khoảng năm 1992 (1993?) trong khi làm công việc biên tập trang văn hoá văn nghệ của báo Lao động Chủ nhật, tôi nhận được một bài viết đặt vấn đề hoài nghi tính xác thực của một câu trích dẫn Alexandre de Rhodes đă lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công tŕnh viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp. Các nhà nghiên cứu lịch sử của ta khẳng định Alexandre de Rhodes đă viết (đại ư): Chúng ta là những người lính... chúng ta có bổn phận đi mở mang bờ cơi. Quả là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng! Câu trích này thậm chí đă được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội. Và ác thay, nó là lư do chính khiến cho tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam (người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đă bị xoá bỏ. Từ bài viết trên, anh em trong ban văn hoá văn nghệ báo Lao động đă bỏ công sưu tầm tài liệu, cuối cùng biết được rằng câu trích tai hại kia là rút từ cuốn hồi kư của một thuyền trưởng người Pháp nào đó, trong khi t́m mỏi mắt không thấy có trong bất kỳ bản viết nào của chính Alexandre de Rhodes! Và người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên cứu tên tuổi, các "nhà" khác sau đó cứ "ôtômatích" trích lại như một sự thật hiển nhiên. Được biết về sau vị có công đó lên tới chức Viện trưởng Viện Tôn giáo! Tôi cho công bố bài viết trên, bản thân lại viết một bài phân tích rơ việc trích dẫn hồ đồ đă nêu (đồng thời chứng minh câu trích đă dỏm lại c̣n bị dịch sai nữa chứ!), rồi viết thư đề nghị Giáo sư Phan Huy Lê, Chủ tịch Hội Nghiên cứu Lịch sử, cho ư kiến. Ít lâu sau, báo Lao động đă đăng bài viết của Giáo sư nêu công lao của Alexandre de Rhodes (mà không hề nêu tội). Đó có lẽ là văn bản chính thức đầu tiên "phục hồi nhân phẩm" cho ông cố đạo này. Tiếp đó, ông phó tổng biên tập của tôi thông báo Ban Bí thư Trung ương Đảng yêu cầu cung cấp toàn bộ tư liệu liên quan đến Alexandre de Rhodes. Chúng tôi đă gửi lên gần 1000 trang photocopy khổ A4, trong đó phần quan trọng do các đồng nghiệp ở báo Công giáo và Dân tộc cung cấp.”


Trước khi góp ư với ông Hoàng Hưng, tôi xin có hai nhận xét và một đề nghị nhỏ sau đây:

 

V́ tác giả đă cẩn thận cho biết rằng “Chuyện này xin kể đại khái, không đảm bảo chính xác về lời dẫn hay năm tháng, v́ tôi đang ở rất xa nhà, không có trong tay tư liệu để trích lục, song đảm bảo chính xác về nội dung”, nên những góp ư của chúng tôi hôm nay cũng xin “được” nằm trong cái khung đó. Và sẽ được ông Hoàng Hưng điều chỉnh hay bổ sung phần viết của ông sau này.

 

Theo ông Hoàng Hưng, sau khi nhận được bài viết của một “độc giả” báo Lao động hoài nghi về tính trung thực của một câu trích (và dịch) được gán cho Alexandre de Rhodes, “anh em trong ban văn hoá văn nghệ báo Lao động đă bỏ công sưu tầm tài liệu” và “t́m mỏi mắt không thấy có trong bất kỳ bản viết nào của chính Alexandre de Rhodes!”. Ông cũng cho biết rằng “người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên cứu tên tuổi”, và sau nầy, “vị có công đó lên tới chức Viện trưởng Viện Tôn giáo!”. Tôi tự hỏi sao báo Lao động (và riêng cá nhân ông Hoàng Hưng), ngay từ đầu, không liên lạc thẳng với tác giả (hay nhiều tác giả) của câu trích (và dịch) đó để được xác nhận nguồn gốc trích dịch, trước khi... bỏ công sưu tầm t́m mỏi mắt! (nhưng có t́m trong cuốn Hành tŕnh và truyền giáo của A. de Rhodes không?) Như vậy, vừa khỏi lăng phí th́ giờ và tiền bạc, nhưng quan trọng hơn cả, vừa tôn trọng và chứng tỏ được thái độ công bằng và khách quan với cả hai đương sự, “người dịch thuật” lẫn “kẻ hoài nghi”.

 

Trong đoạn trích dẫn ở trên, ông Hoàng Hưng có cho biết “Câu trích này thậm chí đă được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội” và “cuối cùng biết được rằng câu trích tai hại kia là rút từ cuốn hồi kư của một thuyền trưởng người Pháp nào đó”. Là một người quan tâm đến cố đạo Alexandre de Rhodes và chữ Việt La-tinh hoá (mà rất nhiều người Việt chúng ta từ lâu quen gọi là Quốc ngữ), tôi đề nghị ông Hoàng Hưng, khi về lại nhà để có trong tay tư liệu để trích lục, công bố nguyên văn câu ở Bảo tàng Lịch sử Hà Nội và nguồn gốc cuốn hồi kư cũng như tên ông thuyền trưởng người Pháp nào đó. Xin nói rơ: đề nghị này hoàn toàn v́ nhu cầu học thuật chứ không v́ nghi ngờ tính trung thực của tác giả Hoàng Hưng.

 

Bây giờ tôi xin góp ư:


1. Tạm thời, về mặt trích dẫn, tôi xin tiếp cận bằng hai giả thuyết: (a) Có hai câu viết khác nhau đến từ hai tác giả khác nhau, nhưng nội dung th́ hao hao giống nhau. Một của cố đạo A. de Rhodes, và một của ông thuyền trưởng người Pháp. Và (b), chỉ có một câu của cố đạo A. de Rhodes mà thôi. Giả thuyết nào đúng có lẽ phải chờ ông Hoàng Hưng công bố tài liệu chúng ta mới đối chiếu và kết luận được tính chính xác của câu trích và dịch ở Bảo tàng Viện Hà Nội?


Sở dĩ cố đạo A. de Rhodes hiện diện trong cả hai giả thuyết (giống ông thuyền trưởng hay chính A. de Rhodes), mà từ và do đó ông Hoàng Hưng đă mỉa mai gọi là “lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công tŕnh viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp” “là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng!” là v́ chính ông cố đạo này chứ không phải ai khác, đă là tác giả của một câu viết trong cuốn Divers voyages et missions (Hành tŕnh và truyền giáo, bản dịch của linh mục Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên, Ủy ban Đoàn kết Công giáo Thành phố Hồ Chí Minh, xuất bản năm 1994). Nguyên văn câu viết ở trang 263 như sau:


Tôi tưởng nước Pháp là một nước đạo đức nhất thế giới, nước Pháp có thể cung cấp cho tôi mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cơi Đông phương, đưa về qui phục Chúa Kitô và nhất là tôi sẽ t́m được các giám mục, cha chúng tôi và thầy chúng tôi trong các giáo đoàn. Với ư đó, tôi rời bỏ Rôma ngày 11 tháng 9 năm 1652 sau khi tới hôn chân Đức Giáo hoàng.”


Ngoài ra, ở trang 264, A. de Rhodes c̣n viết tiếp:


“Trên đường từ Lyon tới Paris tôi nghiệm thấy có sự quan pḥng rất đặc biệt của Chúa tôi vẫn coi như kim chỉ nam và mẫu mực. Để ra mắt ở Pháp tôi cần có thiên thần hộ vực để đưa tôi lọt vào triều đ́nh vua cao cả nhất hoàn cầu. Thế là tôi gặp ở Roanne đức Henri de Maupa, giám mục thành Puy, tu viện trưởng Saint Denis, đệ nhất tuyên úy của Hoàng Hậu. Ngài có nhă ư cùng đi với tôi trong cuộc hành tŕnh nhỏ bé nầy.” (Chữ đậm là của BK.)


Ngoài chuyện linh mục Hồng Nhuệ, theo tôi, có thể v́ t́nh cảm tôn giáo mà cố t́nh dịch sai nguyên bản hai chữ “plusieurs soldats” của A. de Rhodes thành “mấy chiến sĩ” (thay v́ “nhiều lính chiến”) tại v́ trong tiếng Pháp, “plusieurs” được hiểu là nhiều, c̣n muốn hiểu là mấy th́ A. de Rhodes đă dùng chữ “quelque”, và cụm từ “la conquête de tout l’Orient” Hồng Nhuệ cũng cố ư dịch và chú thích sai là “Nước cha trị đến” mà đúng nghĩa phải dịch là “Thống trị toàn cơi Đông phương”. Chúng ta c̣n thấy thêm hai điều:

 

Câu “mấy chiến sĩ đi chinh phục toàn cơi Đông phương” của A. de Rhodes có vẻ... hao hao giống câu “Chúng ta là những người lính... chúng ta có bổn phận đi mở mang bờ cơi” mà ông Hoàng Hưng nhớ mang máng khi đọc tại Bảo tàng Lịch sử Hà Nội.

 

Nội dung của phần trích dẫn ở trang 264 của A. de Rhodes (nhờ đệ nhất tuyên úy của Hoàng Hậu vận động để đưa tôi lọt vào triều đ́nh vua) th́ hoàn toàn phù hợp với nhận định đúng đắn rằng “truyền giáo đưa đến xâm lăng”, nhưng ông Hoàng Hưng th́ lại mỉa mai rằng “là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng."


2. Theo ông Hoàng Hưng, v́ xác định sai nguồn trích dẫn (đáng lẽ là từ hồi kư của thuyền trưởng Pháp nào đó th́ lại nhầm thành của A. de Rhodes) nên “ác thay, nó là lư do chính khiến cho tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam (người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đă bị xoá bỏ”.


Tuy nhiên, A. de Rhodes có phải là người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ không? Ta hăy để chính A. de Rhodes tự cải chính lấy điều mà hậu thế chúng ta, v́ vô t́nh hay có hậu ư nào đó, cứ sai lầm gán cho ông. Trong mấy ḍng đầu của cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (Nhà xuất bản Khoa học Xă hội, Thành phố Hồ Chí Minh, 1991, trang 3, phần Việt ngữ), ông viết như sau:


Quyển từ điển tam ngữ này, gồm tiếng An Nam, Bồ Đào Nha và La tinh tôi đặt nó vào trong tay và để trước mắt bạn được, là nhờ vào sự tài trợ của Thánh bộ Truyền bá Đức tin...


Tuy nhiên trong công việc nầy (soạn chữ quốc ngữ, BK) ngoài những điều mà tôi học được nhờ chính người bản xứ trong suốt gần mười hai năm thời gian mà tôi lưu trú lại hai xứ Cô-sinh (Đàng Trong, BK) và Đông Kinh (Đàng Ngoài, BK) th́ ngay từ đầu tôi đă học với Cha Francisco de Pina người Bồ Đào, thuộc Hội Ḍng Giê-su rất nhỏ bé chúng tôi, là thầy dạy tiếng, người thứ nhất trong chúng tôi rất am tường tiếng nầy, và cũng là người thứ nhất bắt đầu giảng thuyết bằng phương ngữ đó mà không dùng thông ngôn, tôi cũng sử dụng những công tŕnh của nhiều Cha khác cùng một Hội Ḍng, nhất là của Cha Gaspar de Amaral và Cha Antonio Barbosa, cả hai ông đều đă biên soạn mỗi ông một cuốn từ điển: ông trước bắt đầu bằng tiếng An Nam, ông sau bằng tiếng Bồ Đào, nhưng cả hai ông đều chết sớm. Sử dụng công khó của hai ông tôi c̣n thêm tiếng La-tinh theo lệnh các Hồng y rất đáng tôn...” (phần nhấn mạnh là của BK).


Rơ ràng A. de Rhodes không phải là người sáng chế ra chữ Việt La-tinh hoá, lại càng không phải là tác giả hoàn toàn của cuốn Từ điển Việt-Bồ-La (được Vatican xuất bản năm 1651), v́ ông chỉ thêm tiếng La-tinh mà thôi.


Cho nên, dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho Alexandre de Rhodes, người góp phần quan trọng như ông Hoàng Hưng đánh giá, theo tôi, là phản học thuật, không có sử liệu. Nếu cần phải xác nhận người có công với chữ Việt La-tinh hoá, th́ đó là Francisco de Pina, người thật sự có công nghĩ ra một văn tự hoàn toàn mới bằng mẫu tự La-tinh. Tiếp sau đó là Gaspar de Amaral (Từ điển An Nam – Bồ Đào Nha) và Antonio Barbosa (Từ điển Bồ Đào Nha–An NamNhập môn Tiếng Đàng Ngoài – Munuducio Ad Linguam Tunkinensem), hai người có công kiện toàn văn tự này. C̣n A. de Rhodes chỉ dựa vào đó để góp công bồi đắp thêm mà thôi.


Ngoài ra, để làm rơ thêm, tôi xin đặt một giả thuyết lịch sử phản diện: Nếu gần 200 năm sau khi các vị này chế ra chữ Việt La-tinh hoá đó, không phải là thực dân Pháp mà “thực dân Bồ Đào Nha” xâm chiếm và đặt ách đô hộ lên nước ta, th́ ông Hoàng Hưng nghĩ chính quyền thực dân Bồ Đào Nha sẽ dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho ai? Hỏi như thế để ông Hoàng Hưng thấy rằng việc Pháp vinh danh A. de Rhodes như người sáng chế ra một văn tự mới th́ không phải lúc nào cũng thuần văn hoá, thuần lịch sử đâu.

Tôi ngờ rằng chính quyền thực dân Pháp lúc bấy giờ vinh danh A. de Rhodes là c̣n v́ hai lư do: Một là để ghi ơn vai tṛ vận động đặc biệt của vị cố đạo này trong quá tŕnh khai sinh chế độ thực dân tại Việt Nam. Và hai là biểu diễn một chiến thắng văn hoá trong cuộc tranh giành ảnh hưởng bá quyền và thần quyền giữa hai nước Pháp và Bồ trong thế kỷ thứ XVI.


3. Tuy nhiên, phần góp ư số 2 ở trên là chỉ để tranh biện với ông Hoàng Hưng về “công” của A. de Rhodes mà thôi. Tại v́ về mặt học thuật, ít nhất là cho đến nay (2006), người đầu tiên thật sự sáng nghĩ ra chữ Việt la-tinh hoá một cách quy mô th́ đă được xác định rơ ràng: Không phải là hai ông Gaspar de Amaral và Antonio Marbosa nói trên, lại càng không phải là Alexandre de Rhodes, mà là một giáo sĩ Bồ Đào Nha khác tên là Francisco de Pina mà A. de Rhodes đă có nhắc đến nhưng người Việt ta th́ lại... cố t́nh quên.


Tôi xin trích đăng một phần bài viết “Ai là người thật sự sáng chế ra chữ Quốc ngữ” (Tạp chí Huế, Xưa & Nay số 62 tháng 3-4/2004) của nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Tương mà chúng tôi, trong giới hạn của ḿnh, đă kiểm chứng tính trung thực của các dữ kiện:


“Thời Pháp thuộc, người Pháp tuyên truyền rằng giáo sĩ Alexandre de Rhodes đă có công sáng chế chữ Quốc ngữ. Nhưng theo nghiên cứu của nhà ngôn ngữ học người Pháp Roland Jacques th́ người có công đầu nầy chính là giáo sĩ Bồ Đào Nha Francisco de Pina.


Roland Jacques đă bỏ ra hàng chục năm để nghiên cứu vấn đề nầy và đến cuối năm 1995. ông đă công bố chuyên luận “Công tŕnh của một số nhà tiên phong Bồ Đào Nha trong lĩnh vực ngôn ngữ học Việt Nam cho đến năm 1650”. Đến năm 2002, công tŕnh được tái bản có bổ sung bằng song ngữ Pháp-Anh.

Sau nhiều năm t́m kiếm trong hàng vạn trang viết về Đàng Trong ở thế kỷ 17-18 c̣n được lưu trữ tại Thư viện Hoàng gia của cung điện Ajuda ở thủ đô Lisbonne, ông may mắn phát hiện được một bức thư viết dở, dài 7 trang, của giáo sĩ Francisco de Pina vào đầu năm 1623 gửi cho khâm sai Jéromino Rodriquez ở Macao, báo cáo về công việc truyền giáo và Latinh hoá tiếng Việt.


Giáo sĩ Francisco de Pina đến Đàng Trong vào đầu năm 1617, đặt chân đầu tiên ở Đà Nẵng, sau đó vào giữa năm này, đến truyền đạo ở cảng thị Hội An. Đầu năm 1618, ông chuyển đến Nước Mặn, Quy Nhơn. Đến đầu năm 1621, ông quay lại truyền đạo ở Hội An cho đến đầu năm 1625. Giáo sĩ A. de Rhodes đến Hội An năm 1624 và học tiếng Việt với ông tại đây.



... Trong bức thư viết vào đầu năm 1623 nói trên, Francisco de Pina đă viết: “Về phần tôi, tôi đă biên soạn một chuyên luận nhỏ về từ vựng và các thanh của ngôn ngữ này (tức tiếng Việt) và tôi đang bắt tay viết về ngữ pháp. Tuy nhiên, tôi cũng đă tập hợp được những cổ tích, thuộc nhiều loại khác nhau, nhằm cung cấp các trích dẫn của các tác giả để xác minh nghĩa của các từ và các quy tắc của ngữ pháp, cho đến nay tôi có thể yêu cầu một người nào đó đọc để tôi phiên dịch sang các chữ Bồ Đào Nha (tức chữ La tinh)... Ngoài ra, tôi đă có ba bốn cuốn tập hợp các bài viết có lư luận trong số các bài viết hay nhất mà tôi t́m thấy được ở Vương quốc nầy.”


Những điều Francisco de Pina đă viết trước khi Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong một năm cho thấy ông đă tiến hành việc La tinh hoá tiếng Việt chậm nhất là vào năm 1622, và đă tạo ra những cuốn sách viết bằng chữ Quốc ngữ sớm hơn bất kỳ một giáo sĩ Tây phương nào đến Đàng Trong lẫn Đàng Ngoài.

... Sau khi người Thầy Francisco de Pina qua đời, các công tŕnh La tinh hoá tiếng Việt đầu tiên của ông đă vào tay người học tṛ Alexandre de Rhodes và ông nầy đă mang theo khi ra Đàng Ngoài năm 1627.

... Về việc người Việt có tham gia trong sự phát minh chữ Quốc ngữ, theo Roland Jacques, gồm hai nhóm: Thứ nhất là giới trí thức gồm có các thầy đồ, sư săi, các trưởng tông phái (đạo Lăo, đạo Khổng,...), quan lại hưu trí và sĩ tử là những người giỏi tiếng mẹ đẻ, am hiểu nền văn hoá dân tộc. Nhóm thứ hai gồm các phiên dịch là thanh niên giáo dân biết tiếng Bồ Đào Nha. La tinh giúp giáo sĩ truyền đạo. Và số người Việt nầy phải đông hơn gấp nhiều lần so với số các giáo sĩ.


... Ngày nay, các nhà ngôn ngữ học hiểu rất rơ nếu các giáo sĩ phương Tây không được sự hợp tác của người Việt th́ không thể La tinh hoá tiếng Việt được. Bởi vậy Roland Jacques đă viết: “Chính cả Pina và các đồng nghiệp đă tập hợp được những người hợp tác có chất lượng mà nếu không có họ, mọi công tŕnh ngôn ngữ học nghiêm túc sẽ không thể có được”. Và ông đề nghị: “Cần thiết phải đặt đúng vị trí việc làm của cá nhân Alexandre de Rhodes trong một công tŕnh tập thể mà ông chỉ là một trong số nghệ nhân thứ yếu, trong đó người Bồ Đào Nha và những người cạnh tranh ngang hàng Việt Nam của họ đă giữ vai tṛ hàng đầu”.


Bài viết nầy của tác giả Nguyễn Phước Tương làm tôi suy nghĩ 2 điều:

 

Vai tṛ góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ của A. de Rhodes mà những người như ông Hoàng Hưng đang muốn nỗ lực xiển dương th́ cần phải được đánh giá lại cho đúng. Nhất là nỗ lực đó nhằm "phục hồi nhân phẩm" cho ông cố đạo này như ông Hoàng Hưng viết, và lại c̣n (hàm ư) muốn dựng tượng, xây bia, đặt tên phố cho ông ta nữa.

 

Những khám phá mới của nhà ngôn ngữ học Roland Jacques được công bố năm 2002 trên toàn thế giới, sau đó được tác giả Nguyễn Phước Tương thông báo trong nước trễ nhất là năm 2004, thế mà đến năm 2006 (nghĩa là 2 năm sau), ông Hoàng Hưng có vẻ vẫn lập luận và mang tâm cảnh (mindset) dựa trên những thông tin lỗi thời của ông từ năm 1992.


4. Như đă viết ở trong phần dẫn nhập và trong góp ư 1, về mặt học thuật, chúng ta đang chờ đợi ông Hoàng Hưng cho biết xuất xứ của các tài liệu, và c̣n vấn đề ǵ cần thảo luận thêm không? Tuy nhiên, dù là giả thuyết nào đúng, th́ bàng bạc khắp bài viết ông Hoàng Hưng có vẻ như đă đóng chốt một kết luận về công và tội của ông cố đạo Alexandre de Rhodes này rồi.


Thật vậy, ông đưa ra 4 sự kiện có thật mà ông có vẻ mỉa mai không bằng ḷng:


a. … tính xác thực của một câu trích dẫn Alexandre de Rhodes đă lưu hành suốt mấy chục năm trời ở miền Bắc trong hầu hết công tŕnh viết về lịch sử xâm chiếm Việt Nam của thực dân Pháp

b. ... Quả là một dẫn chứng tuyệt vời cho nhận định các nhà truyền giáo Gia tô là những kẻ mở đường cho các đạo quân xâm lăng!


c. ... Câu trích này thậm chí đă được kẻ lên bảng treo trong Bảo tàng Lịch sử ở Hà Nội. Và ác thay, nó là lư do chính khiến cho tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam (người góp phần quan trọng tạo ra chữ Quốc ngữ) đă bị xoá bỏ.


d. ... Và người có công phát hiện câu trích ấy là một nhà nghiên cứu tên tuổi, các "nhà" khác sau đó cứ "ôtômatích" trích lại như một sự thật hiển nhiên. Được biết về sau vị có công đó lên tới chức Viện trưởng Viện Tôn giáo!


Qua 4 câu đó, tôi có thể hiểu rằng, theo ông Hoàng Hưng, ông cố đạo Alexandre de Rhodes là người có công lớn với dân tộc ta (chí ít cũng là công thần với văn hoá Việt Nam), xứng đáng vinh danh trên toàn nước (thế mà tượng, bia kỷ niệm, tên phố của vị công thần với văn hoá Việt Nam... đă bị xoá bỏ).

Chắc không ai có thể đồng ư với một kết luận tùy tiện và đơn giản như thế được. Lịch sử cần ṣng phẳng. Công th́ khen, tội th́ phạt. Công ít th́ khen ít, tội nhiều th́ phạt nhiều, không thể mập mờ được.

 

Công của ông cố đạo nầy th́ đă quá rơ: Ông A. de Rhodes dứt khoát không phải là người đầu tiên sáng chế ra chữ Việt La-tinh hoá, nhưng ông đă cùng với các ông cố đạo Bồ Đào Nha khác, cùng như cùng với những trí thức Việt Nam khác (thầy đồ, sư săi, quan lại,...), góp phần chỉnh trang, hệ thống hoá và đặt nền móng cho tiếng Việt của chúng ta ngày nay. Và cái công tập thể đó th́ chỉ giới hạn trong lănh vực ngôn ngữ mà thôi, rơ ràng chưa xứng đáng để v́ đó mà ta nâng chỉ mỗi ḿnh ông cố đạo này lên thành công thần văn hoá, lại càng không xứng đáng để xây bia, đúc tượng, đặt tên đường như những vị danh nhân văn hoá khác của Việt Nam.

 

Huống ǵ khi mở rộng ra trên b́nh diện lịch sử dân tộc, tội của ông th́ cũng đă quá rơ, và quá nặng: Ông Alexandre de Rhodes là ông cố đạo Pháp đầu tiên đă vận động chính quyền Pháp xâm chiếm nước ta với ư đồ làm cho hai chính sách truyền đạo của nhà thờđô hộ của nhà nước quấn quyện vào nhau trong một thế hỗ tương quyền lợi, dù ư đồ đó không thành tựu ngày ông nhắm mắt. Tuy nhiên chính v́ “tiền lệ” đó mà sau này, những giáo sĩ Pháp như Pallu, De la Motte, Huc, Pellerin, Puginier,... đă triển khai để thành công trong việc thuyết phục, kế hoạch, và tiến hành cuộc xâm lăng nước ta và áp đặt nền đô hộ trên dân ta.

 

Xin giới thiệu với ông Hoàng Hưng một vài đầu sách xuất bản tại nước ngoài, để ông tham khảo thêm về chủ đề nầy: Histoire moderne du pays d’Annam, Charles Maybon; Vietnam: History, Documents and Opinions, Marvin Gettleman; L’Empire Vietnamien face à la France et à la Chine, Yoshiharu Tsuboi; La place du Catholicisme dans les relations entre la France et le Vietnam de 1851 à 1870, Etienne Vũ Đức Hạnh; Fire in the Lake, Francis Fitzgerald; Vietnam’s Will to Live, Helen Lamb; The New Face of the War, Malcolm Browne; Vietnam A History, Stanley Karnow; Vietnam, A Political History, Josepph Buttinger –– Rhodes đă làm ǵ cho Việt Nam, Trần Quư - Việt sử toàn thư, Phạm Văn Sơn; Việt Nam thời Pháp đô hộ, Nguyễn Thế Anh; Việt Nam Pháp thuộc sử, Phan Khoang; Đạo Thiên chúa và chủ nghĩa thực dân tại Việt Nam, Cao Huy Thuần; Thập giá và lưỡi gươm, Trần Tam Tỉnh; Lịch sử nội chiến Việt Nam, Tạ Chí Đại Trường; T́m về dân tộcTôn giáo và Dân tộc, Lư Chánh Trung; Histoire de la pénétration Francaise au Vietnam (1858-1897), Nguyễn Xuân Thọ, ...


Ngoài ra, cũng để xác định với ông Hoàng Hưng rằng quy luật “thập giá đi trước, lưỡi gươm theo sau” của giáo hội Vatican là nhất quán và có tính toàn cầu, xin lại giới thiệu với ông một số đầu sách khác để ông có một cái nh́n tổng thể hơn: The Vatican Empire, Nino Lo Bello; American Freedom and Catholic Power, Paul Blanshard; Pope, Premier, President, Roland Flamini; Catholicisme et sociétés asiatiques, Alain Forest & Yoshiharu Tsuboi; The Roman Catholic Church in Colonial Latin America, Richard E. Greenleaf; The Catholic Church in World Politics, Eric O. Hanson;The Missionaries: God Against the Indians, Norman Lewis; Catholic Imperialism and World Freedom The Vatican's Holocaust, Avro Manhattan; Công giáo chính sử: 2000, Trần Chung Ngọc; The Politics of the Vatican, Peter Nichols; Christ or Evil? The Corrupt Face of Christianity in Africa, Anene Obianyido; The Holy Humbugs, Padchi; Missionaries, Julian Pettifer & Clive Prince; The Roman Catholic Church in Modern Latin America, Karl M. Schmit; Công giáo trên bờ vực thẳm, Charlie Nguyễn; The Keys of This Blood, Malachi Martin...

Cuối cùng, để kết thúc bài viết này, tôi cho rằng việc đặt lại tên đường và dựng tượng Alexandre de Rhodes cách đây mấy năm là một quyết định hoàn toàn sai lầm của những người trách nhiệm về văn hoá và sử học của nước ta, cả trong lẫn ngoài nhà nước. Như hàng ngàn sai lầm khác trong quá khứ mà nhà nước và nhân dân đang từ từ sửa sai. Sự thật dù có bị chôn vùi hay bóp méo bằng những lớp bụi chính trị nhất thời và quyền lợi tôn giáo, th́ cuối cùng vẫn là sự thật.

 

Trích Talawas

 

 

*******

 

 

Kính gởi Ban Biên tập talawas 

Tôi thấy tên tôi trên bài viết của tác giả Chương Thâu trong talawas ra ngày 2-6-2006 Tôi nhờ Ban Biên tập vui ḷng thông tin cho tác giả và độc giả biết rằng luận án của tôi mà tác giả trích dẫn đă xuất bản trong nước từ bốn năm nay (NXB Tôn Giáo 2002) dưới nhan đề Giáo sĩ thừa sai và chính sách thuộc địa của Pháp tại Việt Nam, 1857-1914 và trong đó không có câu viết của A. de Rhodes. V́ vậy tôi không muốn thấy ḿnh bị liên hệ vào cuộc tranh luận liên quan đến câu viết này và cũng từ khước trước những tranh luận tương tự trong tương lai


Tuy nhiên, tôi thấy tranh luận xảy ra trên chữ "soldat" của câu viết cho nên xin nêu ra đây nghĩa của từ đó trong từ điển Robert của Pháp:


Soldat: 1. Homme équipé et instruit par l'Etat pour la défense du pays. 2. Tout homme qui sert ou qui a servi dans les armées.


Dịch: 1. Người được nhà nước trang bị và huấn luyện để bảo vệ xứ sở. 2. Bất kỳ người nào phục vụ hoặc đă phục vụ trong quân đội


Như vậy "soldat" bao hàm ư nghĩa quân sự, quân đội. Đó là người mà nhiệm vụ là làm chiến tranh, chiến tranh pḥng vệ hay chiến tranh xâm lược, dù là nghĩa đen hay nghĩa bóng. Trong tôn giáo, dùng chữ "soldat" không làm mất đi cái ư nghĩa đánh nhau. Dù đánh nhau v́ chân lư đi nữa, th́ cũng đánh nhau và đánh nhau v́ chân lư th́ ghê rợn lắm. Đừng trách ai dịch soldat là "binh sĩ".


Kính thư,


Cao Huy Thuần

 

Trích Talawas

 

*******

 

BỨC THƯ GIÁO SƯ HOÀNG TUỆ

 

Hà Nội, ngày 26 – 11 – 96

 

Anh Trần Văn Thông thân mến, 

 

    

Hoàng Tuệ đây? Đă nhận sách và thư của Anh và cả a. Lê Nhu. Cám ơn các anh. Tôi cũng đă có đọc. Đọc chậm lắm. Làm sao đọc cho nhanh được các anh ơi!

 

    Về các tài liệu gửi về, tôi thấy là quư. Đúng là ở trong nước, c̣n thiếu tài liệu cho các nhà nghiên cứu.

 

    Đối với A, de Rhodes, không ít vị c̣n giữ ư kiến như các anh biết. Họ ca tụng ông này thật quá lời và muốn “rộng răi” trong sự kỷ niệm ông ta, tôi nghỉ các anh nên viết thư về cho các vị trong chính phủ, một số vị đang có thái độ như trên, cả một số học giả!

 

    Về Pétrus Kư, Nguyễn Trường Tộ và nhiều người khác, tôi có ư nghĩ hơi khác (giới nghiên cứu, học giả trong nước và giáo sư Hoàng Tuệ xác nhận thiếu tài liệu, ĐDTB) là phải chăng nếu thấu cái  tâm sự của họ (Phản quốc Việt gian, ĐDTB) trong thời bi kịch đất nước bế tắc về học vấn, về văn hóa.

 

    Chúc Anh và các anh em bên đó làm được nhiều việc có ích trong nghiên cứu, khoa học. Và chúc hạnh phúc.

 

 

Thân

 

Kư tên

 

Hoàng Tuệ

 

Khu Thành Công, B5 – 62

 

Q, Ba Đ́nh, Hà Nội

 

Tel: 8343591

 

 

TB: Tôi có chuyển một số sách cho Ô. Đặng Nghiêm Vạn, Viện trưởng Viện Tôn Giáo. Ông ấy có ư muốn liên hệ với Anh. Các ông ở Viện Sử không tỏ ra có ư muốn ấy, Ông Vạn, Viện Tôn giáo, 27 Trần Xuân Soạn, Hà Nội

 

Ghi Chú:

 

* Trong những lần điện đàm anh TT với gs Hoàng Tuệ, gs Tuệ cho biết là gs. Nguyễn Khắc Xuyên, ra Hà Nội có quỳ tạ lỗi gs Tuệ tha cho NKX đă viết những lời thô tục bất kính đối với gs Tuệ, nhưng không viết bài đính chính trên báo chí ( quá gian manh xảo trá). Địa chỉ mới của gs Tuệ, ṭa nhà lầu 3 tầng kiến trúc hiện đại (gia đ́nh Bảo Ninh ở chung ): 100/3 Hoàng Hoa Thám, Q Hoàn Kiếm, Hà Nội. Theo anh TT, trong lần gặp tại 100/3 Hoàng Hoa Thám vào năm 2000, gs Tuệ bị căn bệnh lạ, cho nên không biết Gs Tuệ c̣n hay mất mà hơn 5 năm mất liên lạc (không có số điện thoại mới) và bận công việc không thăm quan Hà nội và kính viếng Di lăng Cha già Dân tộc Hồ Chí Minh trong những lần về Việt Nam sau này.

 

* Theo lời khai của một lang y (người thôn Thuận An, tổng Thanh Vân, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An) tên Trần Vinh, bị tàu Pháp bắt đem đi rồi sau trốn thoát được, kể lại th́ ngày10 tháng 9 ( tức 16-10-1858), tàu Pháp ( trên đó có Trần Vinh) đến đảo Nhân Sơn, trước cửa Mành Sơn, để đón ( Đức thầy Huy và Cố Lư)  (tức Giám mục Gauthier và Linh mục Crox, cũng có tên Hậu và Ḥa) nhưng (hôm qua hai vị đă lấy thuyền Nhà Chung với 8 người đi rồi). Khi tàu Pháp trở về Sơn Trà, Đà Nẵng, th́ thấy thuyền nNhà Chung đă ở đó rồi. ( Xem Châu bản Triều Nguyễn CBR 22/47).Các giáo sĩ Pháp tập trung khá đông đảo tại Đà Nẵng, đứng đầu là Giám mục Pellerin, đă cùng nhau làm áp lực  để quân Pháp chiếm đánh thẳng Huế cho chóng dứt điểm. Nhưng bộ chỉ huy quân sự Pháp đánh giá là không thể dễ dàng tiến đánh Huế mà phải chuyển hướng về Saig̣n. Do đó, trước khi đem quân vào Saigon, Đô đốc Rigauit de Genoully đă t́m cách bắt buộc các giáo sĩ Pháp, hoặc trở về nhiệm sở hoặc đi tạm lánh ở Hong Kong, Giám mục Gauthier cùng với Nguyễn Trường Tô  và những người tháp tùng đă đi sang Hong Kong trong những điều kiện như thế nào vào đầu năm 1859. ( ghi chú ở tr 22*, của Nguyễn Trường Tộ Con Người Và Di Thảo của linh mục Trương Bá Cần, nxb TP. Hồ Chí Minh , năm 1988 )  

 

ĐDTB, ngày 28/8/06

 

PHỤ LỤC:

 

Từ điển Việt – Bồ – La tinh

 

Tuy thế, dù sao đi nữa chúng ta cũng ghi nhận rằng Alexandro de Rhodes đă đưa ra xuất bản những công tŕnh về chữ quốc ngữ sáng tạo bởi hai người Bồ Đào Nha: Gaspar do Amaral và Antonio Barbosa.

 

Hai vị thầy vĩ đại này xứng đáng gợi chúng ta lập tượng đài tưởng niệm, chứ không phải Alexandro Rhodes!

 

Francesco do Pina

 

Sinh năm 1585 tại Guarda, Bồ Đào Nha

 

Nhập giáo đoàn Jesus, Christo giáo năm 1605 tại Coimbra. Đến Macau từ 1613.

Đến truyền giáo ở Đàng Trong năm 1617, thông thạo nhiều thứ tiếng Đông Nam Á, nhất là tiếng Nhật và tiếng Việt.

 

Dạy tiếng Việt cho các giáo sĩ Âu châu mới qua Á Đông, trong số có Gaspar do Amaral, Antonio Barbosa và Alexandro Rhodes.

 

Phiên âm tiếng Việt theo mẫu tự Bồ Đào Nha và La tinh. Đắm thuyền chết tại cửa biển Đà Nẵng ngày 15-12-1625.

 

Gaspar do Amaral

 

Sinh năm 1594 tại Curveceira, Viseu, Bồ Đào Nha ngày nay. Nhập giáo đoàn Jesus, Christo-giáo, năm 1617 tại Coimbra, Bồ Đào Nha. Đi Á Đông năm 1624 ở Macau; Viện trưởng Viện Truyền đạo ở Macau. Đến Đàng Ngoài năm 1629.

 

Trở về Macau năm 1638 sau khi hoàn thành phiên âm chữ quốc ngữ Việt Nam. Đắm thuyền, chết ngoài biển Macau tháng 2-1646 trên đường đi Việt Nam.

 

Antonio Barbosa

 

Sinh năm 1594 tại Amifana do Souza nay là Penafiel gần Porto, Bồ Đào Nha. Nhập giáo đoàn Jesus, Christo giáo tại Lisboa năm 1624. Đi Á Đông đầu năm 1624.

 

Đến Đàng Trong 1629, rồi Đàng Ngoài năm 1636 cho đến 1642 đi Macau. Hợp tác với Gaspar do Amaral trong việc hoàn tất phiên âm chữ quốc ngữ.

 

GS-TS Phạm Văn Hường

Trích Người Lao Động, ngày 7/1/07



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend