TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

KHƠI ĐỘNG VÀ NUÔI DƯỠNG L̉NG THAM LAM VÀ ÍCH KỶ TÍN ĐỒ


KHƠI ĐỘNG VÀ NUÔI DƯỠNG

L̉NG THAM LAM ÍCH KỶ CỦA TÍN ĐỒ…

 

NGUYỄN MẠNH QUANG

Tham lam và ích kỉ là cha đẻ những đặc tính tham lợi háo danh và thèm khát quyền lực. Những kẻ tham lợi, háo danh, thèm khát quyền lực đều là những kẻ chỉ biết danh vọng và quyền lực. Hạng người này có thể làm những chuyện đại nghịch bất đạo như giết cha, giết mẹ, giết anh em, đối xử tàn tệ với vợ con, phản thày, phản bạn, phản quốc, phản lại giống ṇi để chiếm đoạt cho bằng được những thứ lợi, danh và quyền lực mà họ đang theo đuổi. Đây là một sự thật đă từng xẩy ra rất nhiều lần trong lịch sử nhân loại và vẫn c̣n tiếp tục xẩy ra trong cuộc sống hàng ngày ở bất kỳ nơi nào trên thế giới, đặc biệt là nó đang diễn ra trong các hội đoàn  của người Việt hải ngọai tại Bắc Mỹ.  Dưới đây là một vài cái gương lưu xú vạn niên này:

1.- V́ thèm khát quyền lực, Thương Thần giết cha là Sở Thành Vương để có thể nhẩy lên ngai vàng cai trị nước sở với vương hiệu là Sở mục Vương. Chuyện này xẩy ra ở nước Sở trong thời Đông Châu Liệt Quốc. Chuyện rằng Sở Thành Vương có nhiều con trai và đă lập ngôi thái tử cho người con cả là Thương Thần. Nhưng v́ tham quyền cố vị, dù là đă ở ngôi 46 năm rồi, Sở Thành Vương vẫn cứ ngồi lỳ bám chặt lấy quyền lực, không chịu nhường ngôi cho con như các vua nhà Trần của nước ta. Thương Thần chờ lâu quá, nóng ḷng và sợ rằng biết đâu vào một lúc nào đó, Sở Thành Vương sẽ đổi ư truất ngôi Thái Tử của ḿnh và lập một người con khác lên thay thế. Rồi chuyện xẩy ra đúng như Thương Thần đă lo sợ. Sau khi lập Thương Thần làm thái tử rồi, Sở Thành Vương lại thương yêu một người con thứ tên là Chức và có ư truất ngôi thái tử của Thương Thần để đưa Chức lên thay thế. Biết được tin này, Thương Thần liền âm mưu với Phan Sùng làm đảo chính. Nửa đêm, hai người này đem quân vào cung vây bắt Sở Thành Vương và buộc phải thắt cổ tự tử, rồi lên ngôi lấy vương hiệu là Mục Vương.

Rơ ràng là ḷng háo danh và thèm khát quyền lực đă khiến cho Thương Thần giết cả người cha ruột của ḿnh để  đạt được mục đích. Độc ác thay. Đúng là loài súc sinh!

2.- V́ thèm khát quyền lực cho nên Lữ Bát Vi đă muối mặt đem cả người vợ thân thương yêu quư của ông ta là Triệu Cơ dâng hiến cho công tôn Dị Nhân nước Tần (đang bị giữ làm con tin ở nước Triệu) để lót đường tiến vào cửa quyền.   

3.- V́ thèm khát quyền lực, Dương Quảng giết cả cha là Dương Kiên Tùy Văn Đế (581- 605), giết mẹ và giết cả anh ruột là Dương Dũng để nhẩy lên ngai vàng, lấy đế hiệu là Tùy Dạng Đế (605-618).

4.- Cũng chỉ v́ ḷng háo danh và thèm khát quyền lực mà Tổng Giám-mục Charles Maurice de Talleyrand (1754-1838) trở thành vua trở cờ với những thành tích phản lại Giáo Hội đi theo Cách Mạng Pháp 1789; khi thấy rằng Liên Minh Thánh (Holy Alliance) của Giáo Hội mạnh, ông lại trở cờ, phản lại Cách Mạng Pháp đi theo Liên Minh Thánh, nhưng v́ bị Liên Minh Thánh truy cứu tội phản lại Giáo Hội trong những ngày đầu của Cách Mạng Pháp 1789, nên ông ta phải trốn chạy sang Hoa Kỳ sống lưu vong và được chính quyền Hoa Kỳ bao che. Khi thấy Tướng Napoléon Bonarparte lên nắm chính quyền ở Pháp và đang ở thế mạnh, ông   t́m cách trở về Pháp xin phục vụ và được cho giữ chức vụ Bộ Trưởng Ngọai Giao trong suốt thời kỳ từ cuối thập niên 1790  cho đến đầu thập niên 1810. Cuối thập niên 1790, v́  c̣n đang ở thế yếu, lại đang phải đối phó với Anh quốc, Hoa Kỳ gửi một phái đoàn sang Thủ Đô Paris để cầu thân với Pháp. Lúc đó,  Charles Muarice de Talleyrand đang nắm giữ chức vụ Bộ Trưởng Ngọai Giao của chính quyền Pháp. Thấy rằng Hoa Kỳ đang ở thế yếu và muốn cầu cạnh làm thân với  Pháp, ông vua trở cờ này quay ra bắt chẹt Hoa Kỳ đ̣i phải nộp tiền hối lộ cho Pháp rồi mới bằng ḷng nói chuyện. V́ phải giữ ǵn quốc thể, phái đoàn Hoa Kỳ tức giận tuyên bố: “Thà mất bạc triệu để pḥng thủ c̣n hơn mất một xu để hối lộ”, rồi bỏ ra về (1) Sau này, vào đầu thập niên 1810, chính quyền của Hoàng Đế Napoléon suy yếu và Liên Minh Thánh đang trên đà thắng thế, ông lại phản lại Hoàng Đế Napoléon để đi với Liên Minh Thánh.  

5.- Cũng chỉ v́ ḷng thèm khát quyền lực, mà ông Da-tô tứ đại Việt gian Ngô Đ́nh Diệm đă trở thành một nhân vật lưu xú vạn niên trong thời cận và hiện đại với những thành tích vừa là một tến Việt gian ác ôn (dùng phương cách tra tấn “đốt đèn cầy sấy hậu môn các tù nhân yêu nước” để lấy khẩu cung), vừa là ông vua phản phé c̣n siêu hơn cả ông vua trở cờ Talleyrand như đă nói trên.  

Cả hai nhân vật Da-tô lưu xú vạn niên lừng danh này đều đă được tŕnh bày khá đầy đủ ở trong Chương 16, sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mă (Tacoma, Washington, TXB: 1999).

6.- Tất cả những người Việt muối mặt nhẩy ra làm Việt gian bán nước cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp - Vatican trong suốt thời kỳ 1858-1954 và Liên Minh Mỹ - Vatican trong những năm 1954-1975 đều là những người tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực.

Phần tŕnh bày trên đây cho chúng ta thấy rằng những kẻ nào càng nặng ḷng tham lam ích kỷ, càng háo danh và thèm khát quyền lực th́ càng trở  thành mù quáng và càng dễ dàng bị sai khiến bằng danh lợi và quyền lực. Đây là một quy luật tâm lư xă hội mà Giáo Hội La Mă đă triệt để áp dụng quy luật này bằng cách soạn thảo thành kế sách khơi động và nuôi dưỡng ḷng tham lam ích kỷ trong ḷng tín đồ để lợi dụng họ làm tay sai đắc lực cho Giáo Hội.

Nhờ đă triệt để áp dụng kế sách này, Giáo Hội La Mă đă đạt được những ǵ mà Giáo Hội mong muốn, tức là đạt được cái mục đích tối hậu của Giáo Hội. Mục đích tối hậu này là hủy dịêt nếp sống văn hóa bản địa ở trong ḷng tín đồ để thay thế vào đó bằng nếp sống văn hóa Da-tô.

Quả thật là như vậy! Quan sát trong xă hội Da-tô, chúng ta thấy kế sách này đă gây ra một tác dụng vô cùng khủng khiếp mà chúng ta có thể nh́n thấy rơ ràng trong cung cách hành xử hàng ngày của họ. Dưới đây là một vài trường hợp điển h́nh:

1.-  V́ ḷng tham lam, ích kỷ và háo danh để được tiếng là con chiên ngoan đạo mà vợ con ông Charlie Nguyễn đă muối mặt lôi ông ra đấu tố, làm cho luân thường đạo lư bị đảo ngược.

2.- Cũng v́ ḷng háo danh và muốn tỏ ra có quyền lực mà những bà hội viên trong Hội Con Đức Mẹ mới có những hành động ác độc tàn ngược trong việc đấu tố em bé Mai trong trại định cư Tân Hạ  (Xóm Đạo) như đă nói ở trên.

3.- Cũng chính v́ ḷng ích kỷ với tinh thần cầu an quá nặng và cũng là muốn tỏ ra được phỉnh nịnh là con chiên ngoan đạo mà khi chứng kiến thảm cảnh người gái nhỏ dại (bé Mai) của họ bị đấu tố (bị đánh bề đồng) tàn nhẫn ngay ở trước mặt  mà họ cũng vẫn không hề xông ra bênh vực chống đở và bảo vệ đứa con của khốn khổ của họ.

4.- Cũng chính v́ ḷng tham lam ích kỷ, háo danh và thèm khát quyền lực mà ông Linh-mục Trần Lục đă dẫn hơn 5 ngàn quân lính thập tự Phát Diệm đi tiếp viện cho Liên Quân Xâm Lược Pháp - Vatcian tiêu diệt lực lượng nghĩa quân kháng chiến của nhân dân ta dưới quyền chỉ huy của nhà ái quốc Đinh Công Tráng tại căn cứ Ba Đ́nh vào năm 1887.

5.- Cũng chính v́ ḷng tham lam ích kỷ, háo danh và thèm khát quyền lực mà những tín đồ Gia-tô người Việt như Trần Bá Lộc, Lê Hoan, Ngô Đ́nh Khả, Nguyễn Hữu Bài, Pétrus Trương Vĩnh Kư, Nguyễn Trường Tộ, Ngô Đ́nh Khôi, Ngô Đ́nh Thục, Ngô Đ́nh Diệm, Nguyễn Bá Ṭng, Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, Hồ Ngọc Cẩn, Nguyễn Lạc Hóa, Đinh Xuân Hải, Mai Ngọc Khuê,     không biết bao nhiêu ngàn tín đồ Da-tô khác đă muối mặt phản lại đất nước, phản lại dân tộc, muối mặt làm tay sai cho quân cướp ngọai thù là Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Pháp - Vatican trong suốt chiều dài lịch sử từ giữa thế kỷ 19 cho đến ngày nay.

 6.- Cũng chính v́ ḷng tham lam ích kỷ, tham lợi, háo danh và thèm khát quyền lực mà ngày 27/8/1964, ở giữa Thủ Đô Sàig̣n, Linh-mục Hoàng Quỳnh đă ngang nhiên hô hào giáo dân rằng, “thà mất nước, chứ không thà mất Chúa” .

Ngoài ra, chúng ta c̣n thấy, ḷng tham lam ích kỷ đă làm cho tín đồ Gia-tô mờ mắt và mất hết lư trí, cho nên họ thường tỏ ra rất trân trọng những chức tước, những phẩm hàm trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội và các địa vị trong chính quyền. Đây cũng là động lực khiến cho tín đồ Da-tô, đặc biệt là tín đồ Da-tô người Việt,  rất hăng say lao đầu vào việc tranh giành hơn thua, chiếm cho được phần hơn về ḿnh. T́nh trạng này gây nên những ác tính khác theo quy luật giây chuyền với những căn bệnh đố kị, tị hiềm và ganh ghét trong con người của họ. Những ác tính này càng ngày càng trở nên trầm trọng.

Cũng v́ thế mà họ trở thành những hạng người thiển cận, lố bịch, trịch thượng (tư phong cho họ là "dân Chúa", gọi những tôn giáo khác là "tà đạo" hay "tà giáo" là những thành phần thuộc các nền văn hóa khác là những quân "mọi rợ", những dân "man di").

Căn bệnh lố bịch trịch thượng này lại sinh ra chứng bệnh huênh hoang, khoác lác, hợm hĩnh một cách vô cùng lố bịch. Đây là căn bệnh đội trên đạp dưới rất thông thường trong xă hội Da-tô (xun xoe, ninh bợ những người có chức tước, địa vị, quyền hành và khinh rẻ những người ngoại giáo, những người lép vế thế cô và những người thấp hèn). Đây cũng là một nét đặc thù trong nếp sống văn hóa Da-tô và được nhà trí thức Da-tô Nguyễn Văn Trung ghi nhận như sau:

“Ai có dịp gần gũi các giám mục Việt Nam đều có chung nhận xét rằng về mặt cá nhân, các Ngài có vẻ đạo mạo, cởi mở, dễ mến, trừ một ít vị tỏ ra cao ngạo, khép kín, quan liêu. Những trong lề lối làm việc, các giám-mục thường rất độc tài, độc đoán. Trong đối xử thường tỏ ra kỳ thị, ban phát ân huệ, coi thường bề dưới, ganh tị và kèn cựa với đồng liêu để lập công với Ṭa Thánh. Những điểm nổi bật là tiền hậu bất nhất, việc làm không đi đôi với lời rao giảng, trọng ngoại khinh nội, tham phú phụ bần, vô cùng sợ hăi Ṭa Thánh, đến nỗi có những linh mục nói rằng, “Ṭa Thánh đánh rắm cũng khen thơm”,…..” (2)

Đặc tính huêng hoang, khoác lác, khoe khoang này không những thể hiện ra trong cung các hành xử hàng ngày của họ với những thái độ và ngôn từ như trên, mà c̣n thể hiện ra qua những lời văn trong những ấn phẩm của họ. Đọc lá thư 1/11/1995 của ông cựu luật sư Da-tô Nguyễn Văn Chức gửi ông cựu Bộ Trưởng Quốc Pḥng Robert McNama, chúng ta thấy rằng, ngoài những lời lẽ chủ quan thiển cận của một hạng người “ếch ngồi đáy giếng”, tác giả lá thư này c̣n kê ra tới 5 cái chức vụ và nghề nghiệp trong cuộc đời của ông ta.

Đặc tính huênh hoang, khóac lác khoe khoang này lại đẻ ra một  cái tật quái đản khác là nói láo hay làm những chuyện giả dối để tô vẽ cho cá nhân ḿnh. Thí dụ như chuyện ông Da-tô Cao Thế Dung tự xưng là tiến sĩ đă trở thành tṛ hề cho thiên hạ. Tại tiểu bang Washington, có một vài người bỏ tiền ra  mua bằng tiến sĩ  rồi viết văn hay viết thư giao dịch với bạn bè đều ghi hai chữ “Tiến–sĩ” trước cái tên của ḿnh. Người viết tin rằng, ở các tiểu bang khác cũng có những hiện tượng hợm hĩnh này. Lại có một vài người mỗi khi gặp một người nào ở đâu đó, họ đều ch́a tay ra bắt tay với người mới quen này và tự giới thiệu, “Tôi Giáo-sư Nguyễn Quốc Tr……”, “Tôi, nhà văn Phạm Quang Tr…”, “Tôi, thi-sĩ ….” . Thiết tưởng rằng chỉ có những kẻ chịu ảnh hưởng nặng nề của nền văn hóa Da-tô mới có những hành động lợm giọng như vậy!

Sự đời, những kẻ ngu dốt thường hay nói chữ. V́ thế mà có t́nh trạng một ông tín đồ Da-tô mớ học xong mấy năm trong chương tŕnh undergraduate (bậc 1) của Phân Khoa Luật thuộc Trường Đại Học Sàig̣n và học theo chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ như trên mà đă tưởng như là một đại trí thức rồi huênh hoang khóac lác và nhảy rào sang cả lănh vực sử học và khoa học chính trị để “múa ŕu qua mắt thợ” trong cái thời tin học như ngày nay th́ quả thật là thứ người “ếch ngồi đáng giếng”, chỉ làm tṛ hề cho thiên hạ. Đây là trường hợp ông cựu thẩm phán  Nguyễn Cần, dùng bút hiệu khi viết sách là Lữ Giang và khi viết báo là Tú Gàn.

V́ căn bệnh huênh hoang khoác lác và thích khoe khoang, ông Lữ Giang mới hí hửng nhẩy rào sang lănh vực sử và ti toe viết rằng: “Thân phụ của hai ông Ưng Đệ và Ưng Trạo là Ưng Thuyên”. Cái tṛ hề này đă khiến cho cụ Phan Bá Kỳ mới “chỉnh” ông Lữ Giang bằng bài viết “Sửa Sai” đăng trên tờ Nguyệt San Người Dân số 77 tháng 1/1977, sau đó lại được in trong cuốn tạp luận Ăn Ốc Nói Ṃ (Costa Mesa, CA; VietBooks, 1998). Bài này khá dài với nội dung “sửa sai” ông Lữ Giang về nhiều chỗ “cương ẩu” để chạy tội cho Giáo Hội La Mă và cho cha con ông Ngô Đ́nh Khả. V́ giới hạn của chương sách này, người viết chỉ trích một đọan nói về môt trong những điểm “cương ẩu” của nhà viết sử xé rào này mà thôi. Về chuyện “ông Ưng Thuyên là thân phụ của hai ông Ưng Đệ và Ưng Trạo”, cụ Phan Bá Kỳ viết:

Ở đây tôi chỉ đề cập đến khả năng cúa ông Lữ Giang. Ông Lữ Giang viết về những sự kiện lịch sử mà không có nổi những kiến thức sơ đẳng, lại không chịu t́m ṭi:

Vua Gia Long Nguyễn Phúc (Phước) Ánh có 9 (13 ?) hoàng tử. Mỗi hoàng tử đặt tên con cháu bằng một bài thơ. Hoàng tử Cảnh là con trưởng nhưng không được làm vua, v́ theo Công Giáo. Con cháu ông này được đặt tên như sau:

Mỹ duệ tăng cường tráng

Liên huy phát bội hương…

Cho nên cháu năm đời ông ta  tên là Cường Để. Con ông Cường Để là Tráng Liệt,…

C̣n ḍng làm vua, th́ bài đế hệ của Minh Mệnh (Mạng) là:

Miên hường (hồng) ưng bửu vĩnh

Bảo quí định long trường

Hiền năng khâm kế thuật

Thế thọai quốc gia xương

Vua Thiệu Trị tên là Miên Tông, vua Tự Đức là Hồng Nhậm, vua Đồng Khánh là Ưng Kỵ, vua Khải Định là Bửu Bảo, vua Bảo Đại là Vĩnh Thụy. Thân phụ của hai ông Ưng Đệ và Ưng Trạo phải là Hồng Thuyên, chứ sao lại là Ưng Thuyên được. Dù bà Ngô Thị Hiệp, chị ông Ngô Đ́nh Diệm, dốt nát, có thể cung cấp cho ông Lữ Giang cái chi tiết sai lạc này đi nữa, th́ ông Lữ Giang cũng không có quyền có cái dốt nát mà cho rằng Ưng là một họ, rồi con… họ Ưng th́ tất nhiên cha cũng họ… Ưng. Nhất là khi ông Lữ Giang lại là người miền Trung. Họ của tất cả những người đó là Nguyễn Phước!” (3)

 Cũng v́ mang cái bệnh huênh hoang khác lác, cho nên khi viết lá thư gửi cho ông cựu Bộ Trưởng Quốc Pḥng Robert McNamara, ông cựu luật sư Nguyễn Văn Chức  đă kể ra tới 5 cái chức vụ và nghề nghiệp ở bên dưới mà không biết rằng những chức vụ và nghề nghiệp này không những chẳng có giá trị thuyết phục ǵ đối với bất cứ vấn đề ǵ mà c̣n để lộ cho người đọc nh́n thấy rơ cái dốt vĩ đại của ḿnh dù là đă từng là luật sư và là thượng nghị sĩ trong chính quyền miền Nam Việt Nam trong những năm tháng 4/1975.

Ḷng tham lam ích kỷ, háo danh và thèm khát quyền lực đă làm cho họ hết sức thiển cận, không c̣n khả năng suy nghĩ sâu xa. Chính v́ thế mà họ mới hăng say lao đầu vào làm những việc độc ác và tàn ngược như đă tŕnh bày ở trên. Tín đồ càng háo danh và càng thèm khát quyền lực th́ Giáo Hội càng dễ dàng khai thác và lợi dụng dùng những miếng mồi danh lợi, quyền lực cũng như  bánh vẽ “hồng ân Thiên Chúa” và “Chúa sẽ trả ơn để lôi cuốn họ hăng say gia nhập vào các đạo quân thập tự phục vụ cho các cuộc chiến do Giáo Hội phát động đi đánh chiếm các vùng đất của các nhóm dân thuộc các tôn giáo khác cũng như làm những việc đại nghịch bất đạo như phản quốc và Cha con tố cáo nhau, vợ chồng tố cáo nhau, anh em tố cáo nhau, bạn hữu tố cáo nha, hàng xóm láng giềng tố cáo nhau v.v... trước ṭa án của Giáo Hội.”

V́ chỉ được tiếp nhận những lời dạy dỗ của Giáo Hội La Mă, họ trở thành lọai người “ếch ngồi đáy giếng”. V́ t́nh trạng này, họ mới tuyệt đối tin tưởng vào những tín lư Kitô, phép mầu và các phép bí tích của Giáo Hội  mà họ không biết rằng những thứ quái đản này chỉ là những điều hoang tưởng phi nhân bản, phản khoa học, thiếu logic do bọn lưu manh buôn thần bán thánh bịa đặt ra với dă tâm lường gạt và lừa  bịp người đời đi kèm theo những chữ “sẽ được” để dùng làm những miếng mồi câu nhử con mồi.

Cũng v́ ở trong t́nh trạng ngu dốt và thiển cận như vậy, họ không có khả năng lư  trí để nh́n ra những tín cách độc đóan, áp bức trong những cái gọi là “thánh luật”, những  giáo luật”, và tính cách siêu phong kiến, phản tiến hóa trong các đẳng cấp của các hàng giáo phẩm trong trong Giáo Hội La Mă, trong cung cách xưng hô và trong các tục lệ trong đạo Da-tô. Họ cũng không có khả năng suy luận để nh́n ra tất cả những thứ quái thai này đều do tập đoàn tu sĩ trong Ṭa Thánh Vatican bịa đặt ra vừa dùng làm những lời đường mật để dụ khị tín đồ và người đời, vừa để củng cố quyền lực vừa dùng làm công cụ đàn áp và khuất phục những kẻ nào tỏ ra ḥai nghi và bất tuân khục Giáo Hội. Dưới đây là một vài lời đường mật đùng để dụ khị người đời:

"Nếu theo đao th́ sẽ được hưởng hồng ân Thiên Chúa, sẽ được Chúa ban ơn, sẽ được Chúa ban phước lành, sẽ được Chúa ban cho no đủ, sẽ  được Chúa ban cho phép lạ, v.v..."

Những lời dạy dỗ bịp bợm  trên đây cho thấy rơ cái bản chất khơi động và nuôi dưỡng  ḷng ích kỷ và tham lam để câu nhử và dụ khi những phường háo danh tham lợi chạy theo để vào đạo.

Kể từ thế kỷ 4,  khi đưa ra chủ trương "Tôn giáo chỉ đạo thế quyền" với dă tâm thiết lập các chế độ đạo phiệt Gia-tô làm tay sai cho Giáo Hội, ở bất kỳ quốc gia nào, một khi  đă có được một chế độ đao phiệt như vậy th́ Giáo Hội  lập tức thi hành kế sách sử dụng miếng mồi danh lợi như các chức vụ, địa vị và quyền lợi trong chính quyền cũng như ở ngoài xă hội để câu nhử những phương háo danh hám lợi vào đạo với hy vọng sẽ được Giáo Hội ban phát cho họ những ǵ họ thèm khát. Kế sách này cũng được Giáo Hội áp dụng khi Giáo Ḥang Urban II (1088-1099)  kêu gọi tín đồ gia nhập vào các đạo quân thập ác trong những đợt tiến quân vào vùng Palestine và miền Nam nước Pháp để  chiếm đất, giết người cướp của ở trong các vùng này. Sách Men and Nations viết về nghệ thuật sử dụng sách lược lưu manh này của Giáo hội La Mă như sau:

Người ta gia nhập vào các Đoàn Quân Thập Ác này v́ nhiều lư do. Giáo Hoàng hứa hẹn sẽ ban thưởng cho họ vừa được   lên thiên đường vừa được hưởng những phần thưởng vật chất thiết thực ở nơi trần thế. Mọi tội lỗi của nguời lính Thập Ác đều được tha thứ. Tài sản và gia đ́nh của họ sẽ được Giáo Hội bảo đảm, trông nom săn sóc trong thời gian họ xa nhà đi chiến đấu. Những ai c̣n mang nợ sẽ được xóa bỏ hết nợ nần và những tội đồ sẽ được xóa bỏ hết tội ác, miễn bị trùng phạt nếu họ gia nhập vào đoàn quân Thập Ác của Giáo Hội. Nhiều ông hiệp sĩ chóa mắt v́ những miếng mồi quyến rũ về những đất đai và của cải mà họ hy vọng sẽ ăn cướp được ở vùng Cận Đông giầu có. Các thương gia th́  thấy đây là cơ hội bằng vàng cho họ kiếm được những món lời lớn trong việc kinh doanh. Các cuộc viễn chinh của Đoàn Quân Thập Ác này một phần mang tính cách tôn giáo, nhưng cũng là một cuộc chiến tranh khích động ḷng yêu thích phiêu lưu của con người, ḷng hám lợi và khát vọng trốn thoát khỏi cảnh nợ nần, tù tội và buồn chán.  ("Men joined   the Crusades for many different reasons. The pope promised both heavenly and earthly rewards. All the sins of a crusader were forgiven. His property and family were guaranteed protection by the Church during his absence. A debtor who took the cross had his debts canceled; a criminal was relieved of punishment. Knights were dazzled by the lure of land and plunder in the rich Near East. Merchants saw a chance for comercial gain. The Crusades were partly religious expeditions, but they also appealed to men 's love of adventure, hope of gain, and desisre to escape debts, pinishment, or boredom.") (4)

Kế sách này cũng được Giáo Ḥang Nicholas V (1447-1455) nhắc lại rơ ràng trong Thánh Lệnh Romanus Pontifex do (Đức) Giáo Hoàng Nicholas V (1447-1455) ra ngày 8 tháng Giêng năm 1454 để dụ khị chính quyền Bồ Đào Nha đem quân đi  đánh cướp các vùng đất ở ngoài lục địa Âu Châu. Nôi dung của cái Thánh Lệnh ăn cướp này được Linh-mục Trần Tam T́nh ghi nhận trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm và đă được trích dẫn ở Chương 1.

  bị  nhồi sọ  và tiêm nhiễm ngay từ thuở mới chào đời và trải qua nhiều thế hệ, hết thế hệ này qua thế hệ khác, những ác tính ích kỷ và gian tham này đă trở thành bản chất trong con người tín đồ của Giáo Hội.  V́ đă trở thành bản chất th́ khó có thể mà thay đổi được (giang san dị cải, bản chất nan di), cho nên,  ở Việt Nam, từ năm 1858 cho đến ngày 30/4/1975, tín đồ Gia-tô luôn luôn hành xử theo cái bản năng này. Khi tiếp xúc với những người Việt Da-tô ngoan đạo, nếu chú tâm theo dơi những cung các hành xử của họ, từ suy tư, cho đến ngôn ngữ và hành động, nhất cử nhất động của họ cũng đều phát xuất từ cái bản chất  gian tham và  ích kỷ mà ra: Họ mơ ước  "sẽ được hưởng hồng ân Thiên Chúa, sẽ được Chúa ban ơn, sẽ được Chúa ban phước lành, sẽ được Chúa ban cho no đủ, sẽ   được Chúa ban cho “phép lạ” ở đời sau   (sic) và  ngay tức th́  nếu   theo đạo Da-tô, tuyệt đối tin tưởng vào Ṭa Thánh Vatican, triềt để vâng lời và tuân hành những lệnh truyền của các đáng bề trên..

Trong thực tế, tín đồ Gia-tô của Giáo Hội trong các đ̣an quân thập ác chắc chắn được làm những chuyện đi càn quét đốt làng, phá đ́nh, cha chùa, cướp của, tàn sát thanh niên đàn ống thanh niên, hăm hiễp đàn bà con gái.

Cũng v́ cái tham vọng gian ác này đă trở thành bản chất, và bản chất này của họ không bao giờ thay đổi được, cho nên chúng ta thấy, từ cuối thập niên 1970 cho đến ngày nay,  trong các cộng đồng người Việt hải ngọai tại các địa phương ở Bắc Mỹ đều có những tín đồ của Giáo Hôi bu vào các hội đồng chuột như đàn ruồi đàn nhặng bu quanh một cái ǵ có mùi hôi thối, để giành giật những chức chủ tịch và ban chấp hành về tay những người đồng đạo của họ bằng những mưu mô thủ đoạn rất là Da-tô. Rồi sau đó, họ lại quay ra tranh giành với nhau  "cái danh hăo huyền này" bằng những thủ đọan cũng rất Gia-tô,  từ gièm pha, phỉ báng, chụp mũ và triệt hạ nhau bằng mọi giá, y hệt như các hệ phái Thiên Chúa Giáo (Gia-tô La Mă, Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Tin Lành, Anh Giáo, Chính Thống Giáo) ở Âu Châu   từ thời Trung Cổ cho đến ngày nay.

Quư vị có thể kiểm chứng sự kiện này qua các tờ bào Việt ngữ ở Bắc Mỹ và ở trong các diễn đàn của họ trong các mạng  (websites). Trước khi  đạo Gia-tô lan truyền đến Việt Nam, xă hội ta  theo nền tam giáo cổ truyền, dân tộc ta chưa bao giờ có những tệ trạng khốn nạn này.

Tất cả những việc làm đại nghịch bất đạo và những hiện tượng quái đản trên đây đều là sản phẩm của nền văn hóa Da-tô.  Ch́nh v́ thế mà nhà báo Long Ân đă ghi nhận như sau:

Con người đă nhân danh tôn giáo để làm những chuyện điên cuồng nhất, đă nhân danh tôn giáo để biện minh quyền lực phi nhân áp đặt lên đầu kẻ khác. Con người đă phản lại tôn giáo, đă chặt đứt cây cầu đưa đến cuộc t́m kiếm chính ḿnh, đă cúi đầu đi trên bố chân để từ con người trở về với nguồn gốc của con người súc sinh.” (5)

Và cũng chính v́ thế mà văn hào Voltaire mới gọi đạo Da-tô là “cái tôn giáo ác ôn” (6) và học giả Da-tô Henri Guillemin gọi Giáo Hội La Mă là “cái giáo hội khốn nạn”.


(1) Jack Abramowitz,. American History. Chicago (Illinois: Follett Publishing Company, 1979), p 210. "In 1797, President Adams sent representatives to France to work out a treaty. They reported  back that French officials were demanding bribes and a loan to France. These officials were identified only as X,Y and Z. American feelings now rose against the French because of the XYZ affair. The whole nation supported the president in refusing to pay any bribes. A popular cry was "millions for defense, but not one cent for tribute." Congress repealed the former treaties with France and the United States. So, in 1798, an undeclared naval war began between France and the United States." Muốn biết rơ nhân vật này, xin đọc Chươg 16, sách Thực Chất Của Giáo Hội La Mă (Tacoma, WA, 1999).y

(2) Nhiều tác giả, Sđd., tr 116.

(3) Nhiều tác giả, Sđd., tr 116.

(4) Nhiều tác giả, Ăn Ốc Nói Ṃ (Costa Mesa, CA: VietBooks, 1998) tr 217-218.

(5) Anatole G. Mazour & John M. Peoples. Men And Nations - A World History (New York: Harcourt Brace Jovanovich, 1975), pp. 217-218.

(6) Bùi Đức Sinh, Lịch Sử Giáo Hội Công Giáo, Phần Nh́ (Sàig̣n: Chân Lư, 1973), tr 165,

(7) Nhiều tác giả, Vatican Thú Tội Và Xin Lỗi? (Garden Grove, CA: Giao Điểm, 2000), tr 92.    



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend