TIẾNG NÓI CỦA MỘT SỐ NGƯỜI VIỆT HẢI NGOẠI VẬN ĐỘNG TOÀN DÂN TRONG NƯỚC VÀ HẢI NGOẠI QUYẾT TÂM 
CÙNG QUÂN ĐỘINHÀ NƯỚC VIỆT NAM HOÀN THÀNH ƯỚC MƠ DÂN TỘC LÀ CHIẾN THẮNG ĐIỆN BIÊN VĂN HÓA:
GIẢI HOẶC VÀ GIẢI TRỪ GIẶC ÁO ĐEN VATICAN, GIẶC ÁO ĐEN BẢN ĐỊAGIẶC TIN LÀNH

THI HÀNH CHÍNH SÁCH NGU DÂN VÀ GIÁO DỤC NHỒI SỌ


THI HÀNH CHÍNH SÁCH NGU DÂN

VÀ GIÁO DỤC NHỒI SỌ

Nguyễn Mạnh Quang

Chúng tôi sẽ dành hẳn một mục gồm nhiều chương sách để tŕnh bày đầy đủ về chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mă. Trong chương này, chúng tôi chỉ đề cập đến kế sách tạo cho giáo dân quen với nếp sống văn hóa Da-tô trong đó có những tập quán cực kỳ phong kiến và phản tiến hóa trong đạo Da-tô mà thôi.

Một trong những mục đích của chủ trương đoàn ngũ hóa giáo dân là  để dễ dàng rèn luyện  tín đồ thuần thục với nếp sống văn hóa Da-tô hay những tập quán Da-tô. Những tập quán này vừa nặng tính cách phong kiến làm hèn hạ và giảm giá con người của tín đồ xuống hàng súc vật. Trong xă hội loài người,  có lẽ chỉ có đạo Thiên Chúa Lă Mă  mới có những tục lệ quái đản như vậy. Cùng là đạo Thiên Chúa, các hệ phái khác như Tin Lành, Anh Giáo và Chính Thống Giáo, Do Thái Giáo và Hồi Giáo không có những tục lệ quái đản ghê tởm này. Dưới đây là một vài tục lệ hay tập quán này:

1.- Chỉ có  Giáo Hoàng mới được quyền đưa bàn chân cho các ông hoàng đế, hay vua chúa hoặc các nhà lănh đạo quốc gia qùy mọp xuống hôn hít. Theo sử gia Paul L. Williams th́ tập quái đản này bắt đầu có từ thời Giáo Chủ Sylvester (314-335). Dưới đây là đoạn văn sử nói về lai lịch cái tập quán khốn nạn này:

“Giáo Hoàng Mitades qua đời trên giường bệnh của một bậc đế vương. Sylveste lên nối ngôi và tai vị gần 22 năm trời. Trong thời gian này, Giáo Hoàng bắt đầu năm quyền thế tục. Lên án tà giáo có nghĩa là những lời dạy trái với lời dạy của Giáo Hội La Mă sẽ bị trừng phạt bao gồm cả bị bỏ tù, bị phát văng lưu đày và bị hành h́nh.  Bao quanh là tất cả những ǵ huy hoàng và lộng lẫy với những  quan hầu sẵn sàng cung ứng cho những cơn thích tùy hứng,   Giáo Hoàng tự nhiên trở thành vênh vang và độc đoán thái quá. Không ai có thể tớ gần Giáo Hoang mà không phủ phục gục mặt xuống ôm hôn bàn chân của ông ta.”  (“Mitiades died in a regal bed, surrownded by attendants. The old bishop was succeeded by Sylvester, who reigned for nearly twenty-two years. During this time the pope came to wield secular power. The condemnation of heresy of false teaching – that is, any teaching in contradiction to that of the Roman Church – was accompanied by civil punishment that came to include imprisonment, exile, and execution. Surrounded in splendor with attendants ready to cater to their every whim, the bishops of Rome, quite, become pompous and egregious overbearing. No one could  approach them without falling to the ground and kissing their feet.”) (1)

Như vậy là tục lệ quái đản này đă có từ thế kỷ 4 và khởi đầu là do bọn quan hầu háo danh và thèm khát quyền lực muốn tâng công lấy ḷng  cấp trên mà tự động phủ phục gục mặt xuống hôn bàn chân của Giáo Hoàng Sivester, chứ không phải là tục lệ này đă có từ trước hay ông giáo hoàng này bắt buộc họ phải làm như vậy. T́nh trạng này cũng giống như hai tên Việt gian Ngô Đ́nh Khả Nguyễn Thân tự động “đào mả cụ Phan Đ́nh Phùng, lấy xác đốt thành tro, lấy tro trộn vào thuốc xuống rồi bắn xuống sông Lam Giang để huy diệt di cốt của Ngài”. Nó cũng giống như bọn Việt gian Ngô Đ́nh Diệm tự động sáng chế ra cách “đốt nến (đèn cầy) sấy hậu môn tù nhân để lấy khẩu cung”, Vi Văn Địnhdùng chày giă cua nện vào khớp xương đê khảo nghi can”, và Cung Đ́nh Vậnlấy giây thừng quấn thật chặt chân tay tù nhân cho máu hết lưu thông, nếu nạn nhân chưa chịu khai th́  dội nước cho giây thừng nở ra” (Nhiều tác giả, Ăn Ốc Nói Ṃ (Costa Mesa, CA: VietBook, 1998), tr 219-220. Tất cả phương cách trả thù và  tra tấn người dă man này đều do bọn Việt gian háo danh thèm khát quyền lực muốn tâng công lấy ḷng quan thày ngoại nhân mà tự động làm như vậy, chứ không phải là thói quen hay tục lệ tra tấn người như vậy đă có từ trước.    

 V́ từ thế kỷ 4 đến cuối thế kỷ 11, thân phận Giáo Hội chỉ là công cụ làm tay sai cho các chính quyền Đế Quốc Lă Mă, Đế Quốc Đông Phương,  Pháp, Đức và Ư, cho nên cái hành động phủ phục gục mặt xuống hôn bàn chân ghê tởm này chỉ được các ông chức sắc trong Giáo Hội La Mă v́ ḷng háo danh và thèm khát quyền lực mà tự động làm như vậy mà thôi, rồi dần dần trở thành tục lệ. Vào cuối thế kỷ 11, các chính quyền Pháp, Đức và Ư đều suy yếu, Ṭa Thánh Vatican trở nên mạnh hơn cả và có thể khống chế các chính quyền thế tục trong toàn vùng Tây và Nam Âu. Chính v́ thế mà Giáo Hoàng Gregory VII (1073-1085) mới thừa thắng xông lên đưa ra cả một danh sách gồm 27 nguyên tắc quái đản, trong đó cái tục lệ quái đản “ôm hôn bàn chân của Giáo Hoàng” được mở rộng cho các nhà lănh đạo chính quyền thế tục cũng được hưởng cái ân huệ ghê tởm này. Sự kiện này được sử gia Malachi Martin ghi trong cuốn The Decline And Fall Of The Roman Church như sau:

"The Pope alone offers his foot to be kissed by princes." (2)

2.- Khi đến thăm các nhà truyền giáo của Giáo Hội, các linh mục và các thày tư tế bản địa phải cúi mọp xuống hôn hít giầy dép của họ. Đây là tập quán trong cộng đồng Gia-tô  ở Việt Nam. Sự kiện này được Linh-mục Trần Tam Tỉnh  ghi rơ cái cảnh tượng ghê tởm này trong cuốn Thập Giá Và Lưỡi Gươm, nguyên văn như sau:

"Tại Bùi Chu, ngày lễ Thánh Đa Minh, tất cả các linh-mục người Việt, bất kể hạng tuổi nào, phải sụp lạy trước mặt các thừa sai , kể cả đối với mấy người c̣n trẻ măng, hoặc chỉ là thầy phó tế thôi, và phải hôn kính giầy của các thừa sai đó, để giúp ḿnh nhớ lại lời thánh Phaolô: "Phúc đức thay bàn chân các nhà truyền giáo." (3)

Người viết không biết rơ cái  tục lệ ghê tởm này này có từ bao giờ, nhưng chắc chắn là nó đi theo nhà truyền giáo Ini-Khu vào Việt Nam từ năm 1533 và được giáo dân Da-tô trân trọng duy tŕ cho  đến ngày nay.

3.- Giáo dân khi có dịp tới diện kiến các ông giám mục th́ sẽ được hưởng ân huệ xếp hàng theo thứ tự chờ đến lượt tới phủ phục chờ ông ta ch́a ngón tay đeo nhẫn ra trước mặt cho mà ôm hôn để lấy phước. Cụ Vương Hồng Sển là người chứng kiến cái cảnh lợm giọng này và kể lại trong cuốn Hơn Nửa Đời Hư với nguyên văn như sau:

Quốc lăo người phốp pháp đến gần như mập, mắt sáng, giọng trong, tiếng nói nghe rất oai nghi, mặt hồng hào, miệng luôn luôn điểm một nụ cuời đắc chí: vốn là anh lớn của Tổng Thống đương thời, trong đạo giữ đến chức giám mục chứ không vừa, nhưng tham vọng quá nhiều, c̣n muốn lên cho được ngôi Tổng Giám Mục trong nước. Sau này, sự nghiệp của nhà này v́ đó mà hư. Tuy tuổi đă trên sáu bẩy mươi, nhưng quốc lăo trông c̣n trẻ lắm, v́ sống trong nhung lụa, sống ngon lành đầy đủ. Nếu không có chiếc áo nhà tu chứng minh, người ta có thể lầm quốc lăo với một đại phú gia hào hoa phong nhă.

Lúc tôi c̣n chơi với Thanh Lăng, một linh mục kiêm giáo sư, trưởng ban văn chương trường Văn Khoa Đại Học, Thanh Lăng thường ví tôi và cho rằng tôi có cách nói năng  giống quốc lăo, cũng nhạy cười, nhạy khôi hài. Nhưng tôi đă lật đật cải chính không dám nhận lời phê b́nh này, v́ tự xét quen ăn mặn nói phét, làm sao dám sánh cùng vị giám mục quyền uy sất sá này... Quốc lăo thường đeo một chiếc nhẫn, biểu hiệu của cấp bực giám mục, tín đồ khi tiếp xúc lần đầu, trước tiên phải qú hôn chiếc nhẫn, và lấy đó làm một vinh hạnh.  

Lần thứ nhất, tôi gặp mặt quốc lăo, là nhơn nhóm họp tại dinh ông tổng trưởng đặc trách văn hóa Trương Công Cừu để bàn về cách thức thành lập hội ”Bác Cổ Thần Kinh” do Giám Mục chủ xướng, và hôm ấy là ngày 16/2/1963.

Khi quốc lăo bước vào pḥng, các ông có mặt, đều quỳ hôn chiếc nhẫn, lần lượt hết người này đến người kia. Đến lượt tôi, tôi quưnh quá, không làm như vậy được và đánh liều, tôi đứng ngay ḿnh và nắm tay quốc lăo gục gặc, v́ chưa qú hôn nhẫn. Tôi vẫn biết ḿnh làm như vậy có thể bị sa thải, nhưng thà mất chén cơm c̣n hơn là mất phẩm giá... Trong khi tôi bắt tay không qú, quốc lăo ngừng lại day mắt ngó tôi chăm chăm. May thời lúc ấy ông Trương Công Cừu lẹ miệng giới thiệu bằng một câu tiếng Pháp: ”Mr. Sển conservateur du musée”. Quốc lăo hừ một tiếng rồi tiếp tục đưa tay cho người khác hôn.

Sau buổi họp, tôi về nhà suốt đêm không nhắm mắt. Mấy ngày liền ăn ngủ mất ngon. Nhờ sau này thét không thấy xẩy ra chuyện ǵ, tôi mới bớt lo...

Ngày thứ hai 25-3-1963, 21 giờ, lại có một buổi họp khác, cũng ở đường Tú Xương, nơi nhà ông Trương Công Cừu. Trong buổi họp, quốc lăo đưa đề nghị phá bỏ vách thành nội Huế, lấy gạch đá xây thánh đường, xây trường học, xây dưỡng đường, như vậy hữu ích hơn, vừa có công ăn việc làm cho bao nhiêu người thất nghiệp. Thêm mở rộng đất đai, không có vách bít bùng, ấy là tự do, không tù túng. Chỗ Ngọ Môn sẽ xây hồ tắm, cho sinh viên nam  nữ, và sẽ xây một hàng rào sắt thật đẹp trước mặt tiền điện Thái Ḥa.

Chúng tôi một nhóm nhỏ, bàn luận với nhau, muốn lên tiếng phản đối, lại e sấm sét búa ŕu, bằng nín thinh th́ tủi hổ cho thân khiếp nhược và tủi cho vách thành, một cổ tích lịch sử, v́ bọn nịnh a dua vách sắp bị phá vỡ th́ uổng quá. Hàng rào sắt hay ho ǵ, v.v... May sao, quốc lăo ngầm biết không ai tán thành vấn đề này nên bỏ qua luôn. Quốc lăo ban một câu sắt lẻm: ”Làm hồ tắm cho trẻ con nó nhờ, không muốn th́ thôi, dẹp!”.  

Câu chuyện không quỳ hôn nhẫn, đến ngày thứ hai 8/4/1963 (rằm tháng 3 Quí Măo), mới được lấy ra hâm nóng lại (bỏ nguội từ 16/2/163). Sáng, lối chín giờ, tôi đang làm việc, bỗng  có chuông điện thoại reo. Ông Vơ Văn Hải, chánh văn pḥng Phủ Tổng Thống (Điện Gia Long), cho tôi hay có lịnh 10 giờ 30 phút, tôi phải có mặt ở Dinh, Đức Cha Ngô Đ́nh Thục có chuyện cần muốn nói.   

Tôi lật đật ba chân bốn cẳng, lên xe buưt Sở Thú, trở về nhà trong Bà Chiểu để thay đổi ư phục, v́ ăn mặc (bộ đồ xá xẩu) rủi bị quở là sỗ sàng thất lễ th́ nguy. Xem đồng hồ thấy 9:45. Nếu đi xe buưt cà rịch cà tang e trễ hẹn, tôi bóp bụng gọi một chiếc Tắc xi, ăn một cuốc 15 đồng (15$), chở tôi đến đầu đường Pasteur góc đường Gia Long. Tôi xuống xe, định đi t́m ông Giá vốn quen sẵn, nhờ dắt đường, nhưng ngặt thay ông quản gia Điện Gia Long hôm nay đi vắng. Tôi bước đại qua Dinh Tổng Thống, theo ngả Pasteur, nhưng vừa đến pḥng trực th́ bị chặn lại. Một ông đại úy, cổ đeo ba bông mai vàng, dạy tôi rằng đây là ngơ ra, và khuyên tôi nên lên xe chạy qua cửa bên Công Lư mới thật là ngơ vào...

Ông đại úy đứng phắt dậy. mời tôi theo ông và ông lấy xe díp trong dinh, bổn thân tự lái và đưa tôi tuốt qua cổng Công Lư, trong nháy mắt, vừa mau vừa sướng, nhưng vào điện, không phải dễ...

Tôi vào pḥng khách, ngồi chờ một giây lâu, mới thấy cửa trong mở toác. Ông Ngô Đ́nh Thục bước ra, mặc đại phục, áo màu tím, trông rất oai nghi. Phen này, ông không bước lại gần, nên tôi chỉ đứng xa cúi đầu chào. Ông lấy mắt chỉ ghế cho tôi ngồi, c̣n ông, ông đứng sau chiếc ghế bành, hai tay vịn vào thành ghế và suốt buổi tiếp xúc, ông đứng chớ không ngồi. Tôi nhột nhạt quá, cũng đứng dậy luôn cho đúng lễ. Bắt đầu câu chuyện, ông khởi sự bằng mấy câu chuyện dằn mặt cho biết oai:

Ông về nói lại với ông Tổng Trưởng Bộ Quốc Gia Giáo Dục, đức giám mục nói rằng ông ấy không biết cách làm việc. Những chỉ thị của tôi, ông ấy đều làm sai bét. Tỉ dụ, tôi dạy thâu tiền nguyệt liễm mỗi 6 tháng là 500, mỗi một năm là một ngh́n đồng. Tôi muốn nói tiền vô hội ”Bác Cổ Thần Kinh” ấy mà. Thế ông ấy đă nói với ông là bao nhiêu?  

Dạ thưa giám mục, có lẽ tôi nghe không rành, v́ nghe ”đóng 500 đồng”

Ấy đó, ông thấy không? Họ làm sai bét những lời tôi đă dạy. Ông làm quản thủ thư viện bảo tàng, tiền lương của ông mỗi tháng có bao lăm, làm sao đóng 500 đồng mỗi tháng. Mỗi tháng đóng 500 đồng, ông đóng làm sao cho nổi! Đóng 500 đồng là mỗi kỳ 6 tháng chứ!  Ông nói đến đây, tôi rón rén trả lời. - Dạ thưa đức giám mục. Ông nói năy giờ là bảo tôi tŕnh lại ông Tổng Trưởng Quốc Gia Giáo Dục. Nhưng tôi ở c̣n cách rất xa ông Tổng Trưởng. Tôi là một viên chức nhỏ. Chẳng dám nào đức giám mục làm cho một bức thư, tôi cầm đem về trao lại có thể dễ dàng hơn. V́ phận tôi thấp, thật tôi không dám ”học lại” những lời giám mục vừa nói đó. Xin xét cho.  

Thôi được, ông giám mục đáp. Để tôi nói lại. Ông khỏi nói. Đến đây, ông bắt qua bàn chuyện bâng quơ trời mưa trời nắng, rồi cho tôi ra về. Cuộc tiếp kiến này vỏn vẹn có 35 phút đồng hồ.  Sau có người nói với tôi, ấy là ông giám mục muốn xem mắt tôi, xem có dùng được không, nhưng v́ tôi lù khù quá, nên ông không dùng. Hú hồn!”. (4)

Cũng như tục lệ các nam nữ tu sĩ Gia-tô bản địa được hưởng ân huệ quỳ mọp xuống hôn hít giầy dép của các cán bộ truyền giáo  từ Âu Châu đến Việt Nam,  tục lệ quỳ mọp xuống hôn nhẫn của một ông giám mục có lẽ cùng đi theo cái tục lệ Gia-tô quái đản này vào Việt Nam từ giữa thế kỷ XVI.

Người viết xin nói nhỏ với tín đồ Da-tô người Việt rằng, cái nhẫn của ông Giám-mục và quư vị may mắn được quỳ mọp xuống trước chỗ ông ta ngồi để hôn hít có tích lũy không biết bao nhiêu rước răi của những người đă hôn hít nó trước đó. Rất có thể những nước răi này có chứa đủ mọi thứ vi trùng ở trong đó, thí dụ như là vi trùng ho lao, vi trùng cùi, vi trùng bệnh hoa liễu,  v.v…   

4.- Sử dụng những thuật ngữ ngược ngạo hết sức chướng tai.- T́m hiểu nếp sống văn hóa Da-tô, chúng ta thấy tín đồ Da-tô người Việt sử dụng những thuật ngữ một cách hết sức dị hợm nghe rất chướng tai, phơi bày ra cho mọi người thấy cái bản chất lố bịch, trịch thượng, cao ngạo hợm hĩnh,  phản ảnh một tâm hồn thiển cận, hẹp ḥi của loại người “ếch đáy giếng”.

Chúng ta biết rằng,  trong ngôn ngữ Việt Nam, "ông" là bố  của "cha" tức là người đẻ ra "cha". Do đó, những người mang tước hiệu "Đức Ông" phải có địa vị cao hơn hay lớn hơn của những người mang tước hiệu "Đức Cha". Ấy thế mà trong hệ thống quyền lực của Giáo Hội La Mă, những người mang tước hiệu "Đức Ông"  lại có địa vị và quyền lực nhỏ hơn địa vị và quyền lực của những người mang tước hiệu "Đức Cha". Khôi hài hơn nữa, trong ngôn ngữ loài người, "Đức Cha" tương ứng với "Đức Mẹ". Từ đó, người ta có thể nghĩ rằng "Đức Mẹ" là vợ của "Đức Cha" và là "con dâu" hay con gái của "Đức Ông". Nhưng trong đạo Gia-tô, những từ ngữ được sử dụng để xưng hô trên đây hoàn toàn không thuận lư, khiến cho người ta có cảm tưởng là luân thường bị đảo lộn.

Đối với những người có tŕnh độ thông  minh trung b́nh và hành sử theo lương tâm và lương tri, việc sử dụng ngôn ngữ như vậy trong đạo Da-tô là một hành động “cưỡng từ đoạt lư" và ngược đời. Từ "công giáo" (catholic) và cụm từ "Hội Thánh duy nhất, thánh thiện, công giáo và tông truyền" là những trường hợp  điển h́nh. Trường hợp  sử dụng những từ "đức ông", và "đức bà", "đức cha”  và “đức mẹ" bị coi như là loạn luân đối với truyền thống văn hóa Đông Phương. Những trường hợp khác nói lên tính cách trịch thượng. Đó là những từ "đức thánh cha", "đức ông", "đức cha", "cha". Đăc biệt là từ "trở lại đạo" vừa nói lên tính cách trịch thượng, vừa nói lên tính cách bất chấp cái nghĩa đích thực của ngôn ngữ,  bất chấp cả lẽ phải, bất chấp cả "cái lư đương nhiên ai cũng phải công nhận" (công lư). Nói chung, tất cả những trường hợp  trên đây đều bị lên án là "cưỡng từ đoạt lư" nếu không muốn nói là "hiếp dâm ngôn ngữ".

Đặc tính "cưỡng từ đoạt lư" trong Giáo Hội La Mă được thể hiện rơ rệt nhất qua những ngôn từ của những tín đồ Gia-tô   cuồng tín người Việt ở hải ngọai khi họ sử dụng những từ ngữ như "nhà ái quốc", "chí sĩ yêu nước" "mất nước" và "phản quốc".Cungt cách họ sử dụng những từ này giống y hệt như họ thường sử dụng những từ ngữ "công giáo”, "trở lại đạo", "Đức Ông", "Đức Cha", v.v... Những tên  Việt gian cuồng nô vô tổ quốc như Trần Lục, Nguyễn Bá Ṭng, Ngô Đ́nh Khả, Ngô Đ́nh Diệm, Ngô Đ́nh Khôi,  Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi, v.v... suỗt cả đời bán nước và làm tay sai cho quân cướp ngoại  thù là Đế Quốc Vatican và Đế Quốc Pháp th́ được họ gọi là các "nhà ái quốc" và "chí sĩ yêu nước".

Trong khi đó  những người yêu nước chân chính của dân tộc đă hy sinh cả đời vào cuộc chiến đánh đuổi quân cướp xâm lăng Vatican và Pháp trong suốt chiều dài lịch sử từ năm 1858 cho đến ngày 30 tháng 4 năm 1975  lại bị họ gọi là những tên "Việt gian", những "tên phản lọan". Tiếu lâm hơn nữa là Việt Nam ngày nay đă hoàn toàn độc lập, đă được cả thế giới công nhận và có chỗ ngồi, có thế đứng, có tiếng nói   ở trong tổ chức Liên Hiệp Quốc, ấy thế mà họ  vẫn kêu là "mất nước". (Thật ra,  nước tổ Vatican của họ đă mất  thế đứng ở Việt Nam). Rơ ràng t́nh trạng thê thảm này là do hậu quả của chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ do Giáo Hội La Mă chủ trương đă được thi triệt để hành ở miền Nam từ năm 1862 cho đến ngày 30/4/1975

Trong ngôn ngữ Việt Nam, chữ (từ) "đức" được sử dụng đ́ kèm với từ "vua" là trường hợp độc nhất để nói về những người c̣n sống. Đó là thời quân chủ  phong kiến. Thông thường, từ "đức" chỉ được sử dụng đi kèm theo với tước hiệu hay danh tánh của một nhân vật được nhân dân hay dân tộc kính trọng và đă qua đời. Đây là trường hợp của Đức Trần Hưng Đạo, Đức Khổng Tử, Đức Phật, v.v...   Những người c̣n sống sờ sờ mà sử dụng từ (chữ) "đức"  kèm theo với tước hiệu hay chức vụ hoặc danh tánh của ḿnh th́ quả thật là hết sữc vắt vẻo, hết sức ngạo mạn. Hăy tưởng tượng, nếu có ai đem chữ "đức" ghép với những chữ "tổng thống", "thống đốc", "thị trưởng" để rồi gọi hay xưng hô "Đức Tổng Thống", "Đức Thống Đốc", "Đức Thị Trưởng" th́ chúng ta sẽ thấy nó "bất b́nh thường" và  "dị hợm" không giống ai cả.

Tương tự như vậy, ngọai trừ những quốc gia theo chế độ quân chủ phong kiến, không có quốc gia nào lại  dùng tên những người c̣n sống sờ sờ để đặt tên cho  các đường phố, công thự hay các cơ sở công cộng của quốc gia, dù người đó là cha già của dân tộc như các nhân vật Tôn Dật Tiên của Trung Hoa, Washington của Hoa Kỳ, Mustafa Kemal của Thổ Nhĩ Kỳ,  Nasser của Ai Cập, v.v... Ấy thế mà những chuyện này lại rất thịnh hành ở trong đạo Gia-tô và hiện tại vẫn c̣n như vậy. Trong những năm 1954-1963, ở Vĩnh Long có Đại Lộ Ngô Đ́nh Thục (chạy ngang qua trường Sư Phạm Vĩnh Long), dù rằng ông Giám-mục Ngô Đ́nh Thục, chẳng có công trạng ǵ cho dân tộc Việt Nam, (nếu không muốn nói là Việt gian bán nước cho Liên Minh Đế Quốc Thực Dân Xâm Lược Pháp -Thập Ác Vâtican) và lúc đó ông ta vẫn c̣n sống sờ sờ ở Vĩnh Long. Măi đến năm 1960 th́  ông ta được Ṭa Thánh Vatican thuyên chuyển ra Huế, và tới tháng 9 năm 1963, ông ta xuất ngoại đi Ư, rồi cuối cùng sang Hoa Kỳ dưỡng lăo và chết ở Missouri vào giữa thập niên 1980.

T́nh trạng "hiếp dâm ngôn ngữ" trong đạo Kitô quá phổ quát như vậy đă đưa đến t́nh trạng lộn xộn về  lối ăn nói, cách xưng  hô trong xă hội Kitô La Mă. T́nh trạng lộn xộn này khiến cho những người không có kinh nghiệm với xă hội Gia-tô cứ ngỡ là "Đức Cha" là chồng của "Đức Mẹ" và "Đức Ông" là   chồng của "Đức Bà". C̣n nữa, trong những gia đ́nh có con học nghề làm linh mục, sau khi được thụ phong linh mục th́ việc xưng hô giữa cha mẹ và người con linh mục này cũng trở thành một vấn đề. Khi cha mẹ nói chuyện với người con linh mục này th́ phải một điều "thưa cha", hai điều "thưa cha" và xưng là "con", nghe thật là chướng tai. Có lẽ chỉ  ở trong đạo Kitô La Mă mới có cái lối xưng hô quái đản như vậy.

5.- Tín tín đồ Gia-tô phải hành xử trịch thượng đối với những người thuộc các tôn giáo khác vào bất cứ khi nào có thể làm được. Hành động xấc xược ngược ngạo này thường là cưỡng bách, chèn ép hay đ̣i hỏi những người khác tôn giáo phải theo đạo Gia-tô và thường hay xẩy ra vào những khi:

a.- có quyền lực trong tay,

b.- khi có  con em  thành hôn với người khác đạo,

c.- khi có cơ hội giúp đỡ một người khác đạo một việc ǵ .

6.- Các đấng bề trên và những người có địa vị hay chức vụ quan trọng hoặc có thế lực trong xă hội Da-tô  có thói quen coi tín đồ thuộc lọai bạch đinh giống như một bầy nô lệngu xuẩn như "con cừu". Việc Giáo Hội sử dụng từ "con chiên" để gọi  tín đồ là bằng chứng nói lên sự kiện này.

7.- Tạo cho tín đồ có thói quen ăn không nói có, gian dối, quay quắt, lắt léo, quanh co và lươn lẹo nhằm để chạy tội hay lấp liếm tội ác dă man và bạo ngược của Giáo Hội và của tín đồ bản địa chống lạoi tổ quốc và dân tộc và cũng là để bảo mật những việc làm bất chính của xóm đạo nói riêng và của Giáo Hội nói chung. Sự kiện này đă được tên văn nô Da-tô đă công khai tuyên bố với nguyên văn:

 “Một sử gia có lương tri, hăy tôn trọng lời khuyên của các bậc tiền bối dạy con cháu “Tôn tốt đẹp khoe ra, xấu xa đạy lại.” (5)

Việc bảo mật những việc làm tội ác hay những việc làm xấu xa trong xóm đạo và trong Giáo Hội cũng được nhà văn Da-tô Nguyễn Ngọc Ngạn ghi nhận như sau:

Là một tín đồ ngoan đạo, anh thấy có bổn phận phải giấu kín những chuyện tội lỗi, dù có thật, xẩy ra trong giáo xứ, không nên để cho người ngoại đạo được biết!” (6)

Thông thường, ở vào bất kỳ thời nào và trong xă hội nào, người nào có thái độ hay hành động gian dối, ăn không nói có, quay quắt lắt léo, quanh  co và lươn lẹo đều bị người đời lên án và ghê tởm. Cũng v́ thế mà những hạng người có những ác tính hay  bản chất xấu xa ghê tởm  này đều phải đắn đo suy nghĩ  kỹ trước khi hành động, và chỉ dám trổ ṃi vào khi nào thuận tiện mà thôi. Thế nhưng, đối với tín đồ Gia-tô, cái bản chất xấu xa ghê tởm này có thể hiện ra ở bất kỳ ḥan cảnh nào và h́nh như họ c̣n tán trợ và khuyến khích nhau trổ tài để làm như vậy. Vấn đề này đă được tŕnh bày khá rơ ràng ở Chương 11 trong Phần I. Ở đây, người viết chỉ xin tŕnh bày cái thói quen của  những người tự phong là "dân Chúa " lợi dụng sự quen biết nào đó rồi t́m cách nhẩy bổ vào nài ép với người hấp hối để rửa tội. Sau đó, họ lại huênh hoang khoác lác, rêu rao rằng người đó trước khi chết đă có linh hồn nhậy cảm và sáng suốt "t́nh nguyện xin về với Chúa". Dưới đây là một vài trường hợp mà người viết được biết:

Trường hợp thứ nhất: Năm 1956, Tổng Thống Gia-tô Ngô Đ́nh Diệm gửi hai ông Linh-mục Toán và Hoàng xuống tận  nhà khám Cần Thơ để đ̣i rửa tội cho ông Ba Cụt. Sự thật là ông Ba Cụt từ chối không bằng ḷng rửa tội theo đạo Da-tô. Độc giả có thể kiểm chứng chuyện này với thân nhân của ông Ba Cụt hiện ở Hoa Kỳ, trong đó có bà Phấn là vợ lớn của ông Ba Cụt, và một người con gái của ông Ba Cụt. Thế nhưng, không biết hai ông Linh-mục Toán và Hoàng  báo cáo với Dinh Độc Lập như thế nào mà ông Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm lại tỏ ra vô cùng hí hửng. Chuyện này được cựu tướng Hùynh Văn Cao kể lại trong cuốn Một Kiếp Người nhu sau:

"V́ ông Ba Cụt mà tôi phải chạy đôn chạy đáo, dậy sớm thức khuya cả mấy hôm. Nguyên là khi Ba Cụt bị án tử h́nh, tôi thấy cụ Diệm đầu bù tóc rối, ban trưa, ban tối cũng như ban sáng, xem ra Tổng Thống băn khoăn lo nghĩ rất nhiều. Cụ gọi tôi vào nói chuyện thiêng liêng mà thôi. Cụ bảo "Án tử h́nh của Ba Cụt th́ không thể ân xá được, bây giờ phải làm sao mà cứu vớt linh hồn ông ấy. Sáng mai, anh lấy máy bay xuống Cần Thơ, gặp Tướng Minh và ông Quang (Đặng Văn Quang  - NMQ), yêu cầu họ để cho hai cha vào khuyên nhủ Ba Cụt trở lại (trở lại đạo - NMQ) để cứu phần rỗi (phần hồn - NMQ) cho ông ta. Cha Hoàng và Cha Toán có mặt ở Cần Thơ rồi. Anh ghé vào gặp Đức Cha B́nh, và thưa chuyện với Ngài biết. Bảo Đại Tá Quang phải đích thân can thiệp với khám (nhà tù - NMQ) để giúp phần hồn cho Ba Cụt. Nếu Ba Cụt thuận th́ tôi đỡ đâu cho."

Ngày mai, tôi thi hành đúng theo chỉ thị. Trở về Sàig̣n, lúc ban chiều, tôi tŕnh Tổng Thống nhiệm vụ hoàn tất. Lại phải lo làm công việc văn pḥng bù lại cả ngày đi vắng. Tối đến, vừa mới và (ăn) một chén cơm, Tổng Thống điện thọai gọi vào Dinh. Cụ lại giảng thuyết về thiêng liêng, thiên đường, hỏa ngục, và xem ra Cụ rất lo lắng về phần hồn của Ba Cụt. Nửa đếm mới ra về.

Tắm gội xong lên giường ngủ là một giờ sáng. Tôi ngủ mê như cây gỗ. Th́nh ĺnh điện thọai reo vang, nghe bên kia ống nói là giọng Tổng Thống. "Ừ, vào đây có việc gấp". Nh́n đồng hồ mới 5 giờ 30. Tôi vội vàng rửa mặt, chải đầu, ăn mặc chỉnh tề, đi vào Dinh.

Vừa bước vào khỏi cửa pḥng, Cụ cười tươi như hoa, đó là lần đầu tiên tôi trông thấy Cụ vui cười cởi mở quá sức. Cụ bảo: "Ba Cụt chịu phép rửa tội rồi. Giờ đây Ba Cụt chết là về Thiên Đàng thẳng ro ro". Tôi hỏi cụ: "Con cũng cầu cho Ba Cụt được lên thiên đàng, nhưng nếu mấy mươi năm trời phạm đủ mọi thứ tội, mà bây giờ chịu phép rửa tội, th́ được lên Thiên Đàng, như vậy có bất công không". Cụ trợn mắt nh́n tôi, như quyết  liệt bênh vực Ba Cụt. Cụ nói: "Thôi bị trảm quyết là một h́nh phạt quá sức rồi. Chúa tha thứ hết.  Ừ, thế mà Ba Cụt hơn ḿnh rồi. Lên Thiên Đàng hạnh phúc lắm."

Và Cụ nói tiếp: "Chỉ có chừng nấy, tôi tin cho anh mừng, v́ mới được tin Cha Toán cho hay, thành tôi mới gọi anh đó." (7)

Qua câu chuyện trên đây, chúng ta thấy rơ là:

A.- Hai ông Cha Toán và Cha Hoàng đă nói láo  (ăn không nói có), báo cáo láo với Tổng Thống Ngô Đ́nh Diệm rằng ông Ba Cụt đă bằng ḷng rửa tội  theo đạo Da-tô trước khi bị chém đầu. V́ vậy ông Ngô Đ́nh Diệm mới tỏ ra vui mừng hí hửng như vậy.

B.- Cho rằng chỉ cần bằng ḷng và làm thủ tục rửa tội theo đạo trước khi chết th́ sẽ lên "Thiên Đàng thẳng ro ro" và "lên Thiêng Đàng hạnh phúc lắm" th́ chỉ  có hạng người ngu xuẩn đến cùng mức của ngu xuẩn mới tin như vậy. Ấy thế mà miền Nam Việt Nam lại có một  tên ngu xuẩn như vậy được Giáo Hội La Mă và Hoa Kỳ đưa lên làm Tổng Thống cả chín năm trời. Như vậy th́ nhân dân miền Nam không khốn nạn làm sao được?

C.- Thành công trong việc làm  cho tín đồ tin rằng, "Chỉ cần  được rửa tội theo đạo trước khi chết th́ sẽ lên Thiên Đàng thẳng ro ro" và "lên Thiêng Đàng hạnh phúc lắm", cho ta thấy rơ tâm địa của các nhà lănh đạo Giáo Hội La Mă quả thật là lưu manh gian dối đến cùng mức của lưu manh gian dối. Nó cũng cho chúng ta thấy rơ chính sách ngu dân và giáo dục nhồi sọ của Giáo Hội La Mă  quả thật  là siêu việt và vô cùng hữu hiệu. Cũng v́ thế mà chúng tôi sẽ dành hẳn một mục gồm nhiều chương sách  để nói về chính sách ngu dân  của Ṭa Thánh Vatican.

Trường hợp thứ hai: Đọc lại đọan văn do cụ Vương Hồng Sển kể lại ở trên, quư vị cũng sẽ thấy các cung cách lươn lẹo trong lời lẽ của ông Giám Mục Ngô Đ́nh Thục qua câu nói:

Ấy đó, ông thấy không? Họ làm sai bét những lời tôi đă dạy. Ông làm quản thủ thư viện bảo tàng, tiền lương của ông mỗi tháng có bao lăm, làm sao đóng 500 đồng mỗi tháng. Mỗi tháng đóng 500 đồng, ông đóng làm sao cho nổi ..”

 

Thực ra, c̣n nhiều lắm,   nói hoài cũng không hết.  Văn tức là người. Đọc những lời văn của họ   tất nhiên là biết được con người của họ.  Tương tự như vậy, khi trực diện đối thoại với người nào, nếu chú tâm để ư đến nét mặt, cặp mắt và giọng lưỡi ăn nói của họ, chúng ta sẽ nhận ra ḷng ngay thẳng hay tâm địa bất chính của người đó. Muốn kiểm chứng sự kiện này, quư vị nên tiếp xúc với các “con chiên ngoan đạo” của các ông Giám-mục Lê Hữu Từ, Phạm Ngọc Chi hay bất kỳ một tín đồ Da-tô người Việt thuộc loạisống đạo theo đức tin Kitô” ở tại địa phương của quư vị, đặc biệt là những ông văn nô Da-tô đă từng có những ấn phẩm hay đang làm báo, viết sách hoặc làm MC cho các chương tŕnh văn nghệ tại hải ngoại, để t́m hiểu th́ sẽ thấy rơ thực hư như thế nào?

Tất cả những đặc tính khác thường đến độ quái đản trong cung cách hành xử và xưng hô giữa những tín đồ Da-tô với nhau và đối với những người thuộc các tôn giáo khác được gọi là đặc tính tinh túy của nếp sống văn hóa Da-tô. 


(1) Paul L. Williams, The Vatican Exposed Money, Murder and the Mafia (New York: Promethus Books, 2003) pp. 12-13.

(2) Malachi Martin, The Decline And Fall of the Roman Church  (New York: G. P. Putnam’s Sons,1981), p 140.

(3) Malachi Martin, The Decline And Fall of the Roman Church

(4) Vương Hồng Sển. Hơn Nửa Đời Hư. Westminster, California: Văn Nghệ, 1995, trang 484-488.

(5) Bùi Hoàng Thu. “Bạn Đọc Góp Ư.” Văn Nghệ Tiền Phong. Ngày 16 – 30/11/1998: 44-45.

(6) Nguyễn Ngọc Ngạn, d., tr 320

(7) Hùynh Van Cao, Một Kiếp Ngườii (Chantilly, VA: Thu Minh Hu?nh, 1993), tr 52-53.



<Go Back>
Printer Friendly Page Send this Story to a Friend